Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-PT

Ngày 21-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
Các Thẩm phán:

Bà Trần Thị Vân Thuý

Bà Ngô Thị Thuỳ Linh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Minh Ngọc- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương- Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 04/2025/TLPT-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 233/2024/HS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện An Dương (nay là quận A), thành phố Hải Phòng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn N, sinh ngày 09 tháng 7 năm 1999, tại Hải Dương. Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nơi ở: Thôn D T, xã L, huyện A (nay là tổ dân phố D T, phường L, quận A), thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Đỗ Thị D; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 31/5/2024, chuyển tạm giam từ ngày 07/6/2024; có mặt.

- Ngoài ra còn có 08 bị cáo không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 28/5/2024, Công an huyện A nhận được tố giác của Lê Văn Đ về việc: Nguyễn Văn N, Bùi Hoàng H, Nguyễn Nam T, Nguyễn Hải Đ1, Bùi Việt A có hành vi đe dọa, dùng vũ lực để chiếm đoạt chiếc xe mô tô BKS 15C1-536.52 của Đỉnh.

Vào 22 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã tiến hành kiểm tra chỗ ở của Nguyễn Văn N ở thôn D, T, xã L, thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Aiblade màu xanh đen BKS 15C1-536.52; 20 bình khí cười; 02 gậy bóng chày bằng kim loại sơn màu đỏ dài 70cm; 01 cân điện tử kích thước (6x3x1)cm; 01 túi dạng túi zip kích thước (8x12)cm bên trong có chứa nhiều túi dạng túi zip kích thước (2,5x2,5)cm chưa qua sử dụng; 01 túi dạng túi zip, kích thước (8x12)cm bên trong có chứa 15 túi dạng túi zip kích thước (5x7)cm chưa qua sử dụng; 01 túi dạng túi zip kích thước (2,5 x 2,5)cm bên trong bám dính chất bột màu trắng. Thu giữ 01 điện thoại iPhone 11 Promax của Trần Thị X; 01 điện thoại Realme màu xanh của Trần Văn C; 01 điện thoại iPhone 6s của Nguyễn Hải Đ1; 01 điện thoại iPhone 7 Plus của Vũ Văn D1; 01 điện thoại iPhone 6s của Nguyễn Văn C1; 01 điện thoại iPhone X của Nguyễn Văn N; 01 điện thoại iPhone 7 của Lưu Quang N1; 01 điện thoại iPhone 7 Plus, 01 điện thoại iPhone 6s Plus của Bùi Hoàng H; 01 điện thoại iPhone 12 Promax của Bùi Việt A; 01 iPhone 13 của Nguyễn Nam T. Đồng thời đưa Nguyễn Văn N, Bùi Hoàng H, Nguyễn Nam T, Nguyễn Hải Đ1, Bùi Việt A, Lê Tưởng Hải L1 và Phạm Hà M là những người có mặt tại nhà trọ của N về trụ sở làm việc.

Kết luận giám định số 604/KL-KTHS ngày 05/6/2024 của Phòng K2 Công an thành phố H, kết luận: Chất bột màu trắng bám dính trong túi nilon bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng thu được của Nguyễn Văn N là ma túy, loại: Ketamin. Không đủ điều kiện cân xác định khối lượng ma túy bám dính trên.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn C, Nguyễn Văn C1, Vũ Văn D1 không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.

Mẫu nước tiểu ghi tên Nguyễn Nam T, Lê Văn Đ đều tìm thấy chất ma túy MDMA và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy K là D2; Bùi Hoàng H, Bùi Việt A, Phạm Hà M đều tìm thấy chất ma túy Ketamine và sản phẩm chuyển hóa là D2; Nguyễn Hải Đ1 tìm thấy chất ma túy MDMA.

Các mẫu nước tiểu ghi tên Ngô Văn S, Phạm Thị L2 và Nguyễn Quỳnh A1 không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa.

Sao kê tài khoản ngân hàng, xác định được các giao dịch chuyển tiền mua bán ma túy giữa Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn C1, Trần Văn C và Vũ Văn D1.

Kiểm tra dữ liệu điện thoại của Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn C1, Vũ Văn D1, Trần Văn C, Trần Thị X, Lưu Quang N1 có các tin nhắn liên quan đến việc trao đổi mua bán chất ma túy phù hợp với lời khai của các đối tượng.

Quá trình điều tra, các bị can khai nhận: Tối ngày 27/5/2024, Lê Văn Đ, Phạm Văn H1, Ngô Văn S, Lê Văn B đi hát tại quán K3 ở thôn D, xã L Đ gọi nhân viên nữ tên L3 (chưa xác định lai lịch), Ngô Văn S và Lê Văn B gọi 02 nhân viên nữ là Phạm Thị L2 và Nguyễn Quỳnh A1 là nhân viên quán K3. Phạm Văn H1 say rượu không gọi nhân viên. Trong khi hát, Đ rủ S thuê phòng tại nhà nghỉ N2, địa chỉ tại thôn A, xã A để sử dụng ma tuý, S đồng ý. Đến gần 24 giờ cùng ngày, Đ rủ L3 đến nhà nghỉ N2, L3 đồng ý. Đ gọi điện cho N đặt mua 06 viên ma tuý Kẹo với giá 300.000 đồng/01 viên và 03G ma tuý Ketamine với giá 1.200.000 đồng/01G, tổng số tiền mua ma tuý là 5.400.000 đồng, hẹn giao hàng tại nhà nghỉ. Tại nhà nghỉ N2, Đ thuê phòng 6101; S và Quỳnh A1 lấy phòng 6102; B và L2 lấy phòng 6103 còn H1 về nhà. N lên phòng 6101 đưa ma túy cho Đ, do không có tiền nên Đ đưa cho N chiếc điện thoại iPhone 12 Pro Max và hẹn thanh toán vào hôm sau. Đỉnh cất số ma tuý trên vào ngăn kéo bàn, lấy 01 viên ma túy kẹo sử dụng. Đỉnh lấy ở trên mép trần nhà của phòng 01 viên ma tuý Kẹo cất giấu từ lần thuê trước, lấy số ma tuý ở trong ngăn kéo ra, chia 01 gói ma tuý Ketamine thành 02 phần, cho một phần vào tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng gói lại cầm sang đưa cho S, một nửa giữ lại sử dụng. Đ sử dụng một phần ma tuý Ketamine. Đến sáng ngày 28/5/2024, thấy còn thừa số ma tuý Ketamine và ½ viên ma túy K1, Đ cho vào bồn cầu nhà vệ sinh, xả nước. Sau khi nhận ma tuý Đ đưa (gồm 01 viên ma tuý kẹo và ½G ma tuý Ketamine gói trong tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng), S sử dụng 01 viên ma tuý kẹo và một nửa số ma tuý Ketamine, số ma tuý Ketamine còn lại để trên mặt bàn. Khoảng 05 giờ sáng, S dậy cầm số ma tuý còn thừa đổ vào bồn cầu xả nước và cùng Quỳnh A1 ra về.

Trưa ngày 28/5/2024, Lê Văn Đ cầm 04 viên ma tuý và 02G ma tuý Ketamine còn lại cho vào túi về nhà H1 mượn xe mô tô biển kiểm soát 15C1-536.52 đến phòng trọ của N để trả lại số ma tuý chưa sử dụng. N trả lại chiếc điện thoại di động và yêu cầu Đ trả số tiền 5.900.000 đồng (4.100.000 đồng tiền nợ cũ và 1.800.000 đồng mua ma tuý ngày 28/5/2024). Đỉnh trả trước 2.000.000 đồng, còn lại hẹn đến ngày 06/6/2024 trả nốt, nhưng N không đồng ý. Đ điều khiển xe bỏ đi thì N hô hào H, T, Đ1, Việt A giữ xe của Đ lại, buộc Đ phải trả đủ số tiền 5.900.000 đồng mới trả xe. T rút chìa khóa xe, H, Đ1, Việt A và N chạy xô đến áp sát đứng xung quanh xe Đỉnh để tạo áp lực không cho Đ dắt xe đi. Hai bên xảy ra cãi vã giằng co, N đi vào gầm cầu thang lấy 01 gậy bóng chày bằng kim loại định đánh Đỉnh. Đỉnh chạy ra ngoài nhặt 02 viên gạch cầm trên hai tay. Lúc này, N, H, T, Đ1, Việt A tiếp tục đứng áp sát xung quanh, giữ xe mô tô của Đ. Do nhóm của N đông người, có hung khí nên Đ không dám phản kháng và bỏ gạch xuống. Đỉnh để lại chiếc xe mô tô 15C1-536.52 rồi đi bộ về. Do sợ Đ sẽ báo Công an nên N đã đổ hết số ma túy K1 và Ketamine còn lại đi.

Trước đó do có mối quan hệ quen biết với các quán hát trên địa bàn huyện, nên Nguyễn Văn N cùng H, T, Đ1, Việt A và một số đối tượng khác chuyên cung cấp khí cười cho khách. N còn mua ma tuý loại Ketamine và ma tuý K1 (MDMA), sau đó bán lại cho khách có nhu cầu sử dụng để kiếm lời. Trong khoảng thời gian từ ngày 25 đến ngày 28/5/2024, N đã mua ma túy và khí cười của người có tên tài khoản Telegram “QQ68boss” (chưa rõ lai lịch), mua ma túy của Vũ Văn D1, Trần Văn C để bán cho Nguyễn Văn C1 (nhân viên quán K4) ở thôn H, xã H, cụ thể như sau:

Tối ngày 25/5/2024, Đinh Thành Đ2 (chưa rõ lai lịch) nhờ Lưu Quang N1 cùng là nhân viên quán K5, địa chỉ tại thôn T, xã L mua hộ ma túy MDMA (Kẹo) và ma túy Ketamine. N1 đồng ý và nhắn tin qua ứng dụng Messenger hỏi Nguyễn Văn C1 để mua ma túy. Chính báo giá Ketamine là 1.400.000đ/ 01G và ma tuý kẹo là 400.000đ/01 viên. N1 báo lại cho Đ2 biết. Đ2 xin N1 số điện thoại của C1 để liên hệ trực tiếp. Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 26/5/2024, Đ2 gọi điện cho C1 hỏi mua 02 viên ma tuý kẹo và 02G ma tuý Ketamine với giá như trên, tổng số tiền mua ma túy là 3.600.000 đồng. C1 gọi điện cho N hỏi mua số lượng ma tuý như trên nhưng thỏa thuận giá 300.000 đồng/01 viên ma túy kẹo và 1.200.000 đồng/1G, tổng là 3.000.000 đồng hẹn giao ma túy tại phòng trọ của N. Sau đó, N đến khu vực đường tàu ở thôn M, xã N mua 02 viên ma tuý Kẹo với giá 220.000 đồng/01 viên và 02G ma tuý Ketamin với giá 750.000 đồng/1G, tổng là 1.940.000 đồng của “QQ68boss”, rồi mang về nhà trọ. Khoảng 03 giờ cùng ngày, Đ2 cùng C1 đi xe taxi đi đến phòng trọ của N lấy ma tuý, trước khi đi C1 đã nhắn tin bảo N chiết bớt một ít ma tuý Ketamine từ số lượng đã đặt mua để dùng riêng. N gọi điện cho Trần Thị X (ở cùng phòng trọ với N), lấy số ma tuý để sẵn trên bàn và chiết bớt theo yêu cầu của C1. X đã chiết ¼ số ma tuý từ 02 túi Ketamine ra 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, rồi gói lại đưa cho C1. Chính đưa cho Đ2 số ma tuý đã mua như thoả thuận và giữ lại số ma tuý mà X đã chiết lại để sử dụng. Đ2 sử dụng tài khoản ngân hàng V số 0031000351088 chuyển 3.600.000 đồng tiền mua ma túy vào tài khoản V1 số 9904236692 của N. N trả cho C1 600.000 đồng tiền chênh lệch bán ma túy cho Đ2, nhưng do C1 vẫn nợ 300.000 đồng nên N chỉ chuyển cho C1 số tiền 300.000 đồng vào số tài khoản ngân hàng B1 số 2123299087 chủ tài khoản TRAN VAN LAM. Sau đó, C1 lấy 300.000 đồng tiền mặt từ người này.

Khoảng 04 giờ sáng ngày 27/5/2024, Vũ Văn D1 đi xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh từ nhà đến thị trấn A, huyện A. Khi đến thôn T, xã A, Diện thấy 01 túi nilon bên trong có tiền ở mép đường nên dừng xe lại nhặt lên kiểm tra bên trong có 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 01 hộp nhựa trong suốt bên trong có 10 viên nén màu xanh. Diện biết số viên nén trên là ma tuý kẹo nên đã cất hộp ma tuý vào cốp xe. Đến 14 giờ cùng ngày, D1 sử dụng tài khoản Zalo tên “Cừu non bé nhỏ” gọi cho Trần Văn C để nhờ bán hộ 10 viên ma tuý Kẹo trên. C gọi điện cho N thỏa thuận bán số ma túy trên với giá 1.800.000 đồng. N đồng ý và sử dụng tài khoản ngân hàng S1 chuyển số tiền trên vào tài khoản của C. C báo cho D1 có người đồng ý mua ma túy với giá 1.600.000 đồng. D1 đồng ý và mang ma túy đến quán K6, ở thị trấn T, A giao cho C. C cất hộp ma túy ở gầm chậu cây hoa giấy trước cửa quán rồi chuyển khoản 1.000.000 đồng cho D1, còn 600.000 đồng trừ trước đó D1 còn nợ C. Số tiền Chiến được hưởng chênh lệch là 200.000 đồng. Sau đó, C gọi điện cho N chỉ chỗ cất ma tuý rồi về nhà. Đến 19 giờ cùng ngày thì N đến lấy ma tuý.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 233/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của Toà án nhân dân huyện An Dương (nay là quận A), thành phố Hải Phòng đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Cưỡng đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; các điều 38; 17; 58; 55 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 10 (mười) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2024.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về điều luật áp dụng, tội danh, hình phạt đối với các bị cáo Trần Văn C, Nguyễn Văn C1, Vũ Văn D1, Trần Thị X, Nguyễn Hải Đ1, Bùi Hoàng H, Bùi Việt A, Nguyễn Nam T; xử lý vật chứng; hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; án phí và tuyên quyền kháng cáo.

Ngày 06/12/2024, bị cáo Nguyễn Văn N có đơn kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn N giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo N và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N trong thời hạn luật định và hợp lệ, nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn N tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên toà sơ thẩm và tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

[2.1] Bị cáo N đã thực hiện nhiều lần hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Cụ thể: Ngày 26/5/2024, N đã bán 02 viên ma túy Kẹo và 02G ma túy Ketamine cho Đinh Thành Đ2 thông qua Nguyễn Văn C1 được số tiền 3.600.000 đồng. Ngày 27/5/2024, N bán 02 viên ma túy Kẹo và 1G ma túy Ketamine cho Lê Văn Đ với giá 1.800.000 đồng nhưng chưa thu được tiền. Nguyễn Văn C1 giúp sức cho N bán trái phép ma túy cho Đinh Thành Đ2 được hưởng lợi 600.000 đồng. Trần Thị X giúp sức cho N bán trái phép chất ma túy. Ngày 27/5/2024, Trần Văn C, Vũ Văn D1 đã bán trái phép 10 viên ma túy Kẹo cho N được 1.800.000 đồng, D1 được hưởng 1.600.000 đồng, C được hưởng 200.000 đồng. Hành vi của bị cáo N là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy, được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo N đồng phạm với các bị cáo Trần Văn C, Vũ Văn D1, Nguyễn Văn C1, Trần Thị X về tội Mua bán trái phép chất ma túy và bị cáo N phải chịu tình tiết định khu hình phạt “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[2.2] Ngoài ra, ngày 28/5/2024 tại thôn D T, xã L, huyện A (nay là quận A), xuất phát từ mâu thuẫn trong việc thanh toán tiền mua bán ma túy nên bị cáo N cùng các bị cáo Bùi Hoàng H, Nguyễn Nam T, Nguyễn Hải Đ1 và Bùi Việt A đã có hành vi giữ xe mô tô và uy hiếp tinh thần đối với Lê Văn Đ để chiếm đoạt số tiền 5.900.000 đồng. Hành vi của các bị cáo N, H, T, Đ1, Việt A là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương, được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vây, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo N, H, T, Đ1, Việt A đồng phạm tội Cưỡng đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo N:

[4.1] Về nhân thân: Bị cáo N không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.

[4.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo N là người gọi điện thoại bảo bị cáo X giao ma túy cho bị cáo C1. Thời điểm phạm tội bị cáo X dưới 18 tuổi. Vì vậy, bị cáo N phải chịu tình tiết tăng nặng “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội”, theo điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qua trình giải quyết vụ án bị cáo N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trong thời gian chuẩn bị xét xử sơ thẩm, bị cáo N đã tác động đến gia đình nộp lại khoản tiền thu lợi bất chính; bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; chú ruột của bị cáo là liệt sĩ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo N theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4.4] Về vai trò của bị cáo N trong vụ án:

[4.4.1] Đối với tội Mua bán trái phép chất ma túy: Bị cáo N cùng các bị cáo Trần Văn C, Vũ Văn D1, Nguyễn Văn C1, Trần Thị X không có sự bàn bạc, phân công, không có sự câu kết chặt chẽ, đồng phạm mang tính giản đơn. Trong đó, bị cáo N là người thực hành tích cực tội phạm, có vai trò cao nhất, đã thực hiện 03 lần mua bán trái phép chất ma túy, xúi giục bị cáo X giúp sức bán ma túy cho bị cáo.

[4.4.2] Đối với tội Cưỡng đoạt tài sản: Bị cáo N cùng các bị cáo Bùi Hoàng H, Nguyễn Nam T, Nguyễn Hải Đ1 và Bùi Việt A không có sự bàn bạc, phân công, không có sự câu kết chặt chẽ, đồng phạm mang tính giản đơn. Trong đó, bị cáo N giữ vai trò cao nhất. Vụ việc xuất phát từ mâu thuẫn của bị cáo N với bị hại. Bị cáo cũng là người hô các bị cáo khác giữ xe của bị hại, lấy gậy bóng chày đe dọa, gây áp lực với bị hại, không cho bị hại mang xe của bị hai đi.

[4.5] Từ các phân tích trên, xét Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo N đúng tội danh, đánh giá đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân, vai trò của bị cáo trong vụ án và áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của các hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới để giảm nhẹ hình phạt cho mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét không có cơ sở chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo N không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; các điều 17; 38; 55; 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn N.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Cưỡng đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 10 (mười) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2024.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 233/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của Toà án nhân dân huyện An Dương (nay là quận A), thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND quận An Dương;
  • - TAND quận An Dương;
  • - CQCSĐT, CQTHAHS Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, HCTP.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Bích Thuỷ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-PT ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy và cưỡng đoạt tài sản (phúc thẩm)

  • Số bản án: 20/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Cưỡng đoạt tài sản (Phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger