|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 20/2025/HS - ST Ngày: 19 - 02 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khuê.
-
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Hạnh và bà Vũ Thị Thùy Đông.
-
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Tiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2025/TLST - HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Đ, thôn Đ, xã T, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông: Trần Văn K, con bà: Dương Thị T1; Gia đình có 02 anh, chị em, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Trần Thị Thu H, bị cáo có 02 con con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 30/7/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích".
Ngày 23/01/2025 bị Cơ quan điều tra Công an thành phố H khởi tố về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/11/2024 đến ngày 08/11/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (Có mặt tại phiên Tòa).
Người bị hại: Anh Trần Chiến T2, sinh năm 1962.
HKTT: Đội 9, thôn Đ, xã T, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. (Vắng mặt tại phiên Tòa).
Người làm chứng:
-
+ Ông Trần Văn K, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Đ, thôn Đ, xã T, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. (có mặt).
-
+ Chị Dương Thị T1, sinh năm 1972; KHTT: Đội 5, thôn Đ, xã T, thành phố H, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm nên Trần Văn T, sinh năm: 1995, trú tại: đội E, thôn Đ, xã T, thành phố H đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Khoảng 16 giờ, ngày 31/10/2024 ông Trần Chiến T2, sinh năm 1962, trú tại đội I, thôn Đ, xã T, thành phố H điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen, biển kiểm soát 89C1 - 021.65 đến nhà bà Dương Thị T1, sinh năm 1972, trú tại đội E, thôn Đ, xã T, thành phố H (là mẹ đẻ của Trần Văn T) để mua cám. Khi đến nhà bà T1, ông T2 dựng xe ở ngoài đường, chìa khoá xe vẫn cắm ở ổ khóa rồi đi vào trong kho xay sát thóc của gia đình bà T1 gặp bà T1 để hỏi mua cám, lúc này T đi từ nhà ra thấy ông T2 và bà T1 đang đứng nói chuyện, T bảo bà T1 đưa tiền cho T nhưng bà T1 không đồng ý thì T không nói gì rồi đi ra ngoài. Khi đi ra ngoài T thấy chiếc xe mô tô của ông T2 dựng ở đường, chìa khoá xe vẫn cắm ở ổ khóa, T quan sát xung quanh không có người nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe này của ông T2. T ngồi lên xe, bật chìa khóa nổ máy phóng đi. T điều khiển xe đi bán nhưng không bán được vì xe không có đăng ký xe. Khoảng 21 giờ cùng ngày, T điều khiển xe đến gặp anh Phạm Tùng L, sinh năm 2000, trú tại thôn T, xã T, huyện T hỏi vay 2.000.000 đồng và T để lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen biển kiểm soát 89C1- 021.65 để làm tin, sau khi vay được tiền, T đã tiêu sài cá nhân hết.
Ngày 03/11/2024 ông Trần Chiến T2 giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H 01 đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 89C1 - 021.65 để phục vụ điều tra.
Ngày 02/01/2025 ông Trần Văn K, sinh năm 1965, trú tại đội E, thôn Đ, xã T, thành phố H là bố đẻ của Trần Văn T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H giao nộp 01 USB bên trong có 02 file video chứa nội dung vụ việc để phục vụ điều tra.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 62 ngày 06/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H kết luận: Chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen biển kiểm soát 89C1 - 021.65 trị giá 2.842.350 đồng.
Tại bản kết luận giám định số 365 ngày 23/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 file video gửi giám định.
Tại bản cáo trạng số: 21/CT - VKS - TPHY ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố bị cáo là đúng người đúng tội, không oan sai. Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để cải tạo tốt sớm được trở về với gia đình và xã hội.
- Người bị hại ông Trần Chiến T2 vắng mặt tại phiên tòa, tại giai đoạn điều tra ông T2 đã nhận lại được chiếc xe máy biển kiểm soát 89C1 - 021.65, ông T2 không có đề nghị và yêu cầu gì khác đối với bị cáo.
Ông Trần Văn K là bố đẻ bị cáo T có ý kiến, bản thân ông và gia đình không có ý kiến hay yêu cầu bị cáo trả lại ông và gia đình số tiền 2.000.000 đồng gia đình đã trả anh Phạm Tùng L mà trước đó bị cáo T đã vay của anh L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên luận tội giữ nguyên quyết định đã truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX: Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về chế độ án phí Toà án, để nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị xử phạt: Bị cáo Trần Văn T từ 09 (chín) tháng đến 01(một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 05/11/2024. Về vật chứng: Đối với 01 đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 89C1 - 021.65, ngày 20/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại cho ông Trần Chiến T2; đối với 01 USB bên trong có 02 file video chứa nội dung vụ việc liên quan tới hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án. Về trách nhiệm dân sự: Anh T2 người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Các vấn đề khác đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về hành vi, quyết định tố tụng, của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an thành phố H; Viện kiểm sát và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2].Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án cùng vật chứng thu giữ được; phù hợp với đơn trình báo và lời khai của người bị hại ông T2 (Bút lục 37, 124 - 128), của người làm chứng bà T1 là mẹ đẻ bị cáo (Bút lục 119 - 122). Nên đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 16 giờ, ngày 31/10/2024, tại đường liên thôn T, thôn Đ, xã T, thành phố H, bị cáo Trần Văn T đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen, biển kiểm soát 89C1 - 021.65 của ông Trần Chiến T2 trị giá 2.842.350 đồng. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
-
+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
-
+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn, bị cáo đã tác động đến gia đình để bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, s khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, sẽ được HĐXX xem xét khi quyết định hình phạt
[4]. Về quyết định hình phạt: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Về nhân thân ngày 30/7/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, bị cáo đã chấp hành xong bản án này, tuy nhiên nay. Ngày 23/01/2025 bị Cơ quan điều tra Công an thành phố H khởi tố về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.”. Nay bị cáo lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy cần xử lý nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với mức độ hành vi phạm tôi của bị cáo đã gây ra mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về vật chứng: Đối với 01 đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 89C1 - 021.65, ngày 20/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại cho ông Trần Chiến T2 do vậy HĐXX không xem xét. Đối với 01 USB bên trong có 02 file video chứa nội dung vụ việc liên quan tới hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen, biển kiểm soát 89C1 - 021.65, ông Trần Văn K (là bố đẻ bị cáo) đã đến trả số tiền 2.000.000 đồng cho anh L sau đó mang xe về trả cho ông Trần Chiến T2, ông T2 đã nhận lại xe, ông Trần Chiến T2, ông Trần Văn K, anh L không yêu cầu đề nghị gì đối với bị cáo T nên vấn đề trách nhiệm dân sự nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[7]. Các vấn đề khác:
-
+ Đối với anh Phạm Tùng L, quá trình điều tra xác định khi bị cáo T để lại xe cho anh L để vay số tiền số tiền 2.000.000 đồng. Anh L không biết xe do T phạm tội mà có, T cũng không nói cho anh L biết nên không xem xét xử lý.
-
+ Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra còn tiếp nhận đơn tố cáo của anh Trần Viết Đ, sinh năm 2001, trú tại đội A, thôn Đ, xã T, thành phố H về việc ngày 03/11/2024 Trần Văn T có hành vi lạm dụng tín nhiệm, chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen đỏ bạc, biển kiểm soát 89B1 - 03154 của anh Đ. Ngày 23/01/2025 bị Cơ quan điều tra Công an thành phố H khởi tố bị can đối với T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.” do vậy HĐXX không xem xét hành vi của bị cáo T trong vụ án này.
[8]. Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về chế độ án phí Toà án.
-
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 05/11/2024.
-
Về vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2, Điều 106; Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với 01 USB bên trong có 02 file video chứa nội dung vụ việc liên quan tới hành vi phạm tội của bị cáo T nên tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
-
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
-
Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai sơ thẩm có mặt bị cáo tại phiên tòa, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại ông T2 vắng mặt tại phiên Tòa, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản sao bản án tại UBND nơi thường trú.
Nơi nhận:
- VKSND Tp Hưng Yên;
- Công an Tp. Hưng Yên;
- Phòng nghiệp vụ TAND tỉnh Hưng Yên;
- Bị cáo; bị hại.
- Lưu hồ sơ vụ án.
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đăng Khuê |
Bản án số 20/2025/HS - ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 20/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Tú phạm tội Trộm cắp tài sản
