TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HS-PT Ngày 14/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn.
- Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng;
- Bà Đỗ Thị Hà.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Trung Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 196/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Đào Hải Q do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 86/2024/HS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Bị cáo có kháng cáo: Đào Hải Q, sinh ngày 23/02/2001 tại huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Hải Đ và bà Phạm Thị N; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đoàn Thế H và ông Chu Quang Q1 - Luật sư Công ty TNHH H8 và cộng sự - thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. (có mặt tại phiên tòa).
Địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà B, ngõ E, đường T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.
- Bị hại:
- Ông Lê Quốc V, sinh năm 1964;
- Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 2000;
- Anh Nguyễn Thế H1, sinh năm 1991;
- Anh Nguyễn Thành Đ1, sinh năm 2001;
- Anh Hoàng Nghĩa T1, sinh năm 1994;
- Bà Lò Thị D, sinh năm 1969;
- Chị Nguyễn Thị Bích H2, sinh năm 1982;
- Chị Lê Thị P, sinh năm 1990;
- Chị Lại Thị Lưu H3, sinh năm 1973;
- Anh Hoàng Việt H4, sinh năm 2002;
- Anh Trần Văn T2, sinh năm 1984;
- Chị Đặng Thị Mỹ P1, sinh năm 1999;
Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình.
Nơi cư trú: Xóm A, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định.
Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: D L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Nơi cư trú: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Tiểu khu F, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La.
Nơi cư trú: Thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Xóm C, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Tổ D, N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Nơi cư trú: Ô DC09 đường D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
(Các bị hại đều vắng mặt tại phiên toà)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trần Phan Lâm V1, sinh năm 2002;
- Chị Phạm Thị Thu H5, sinh năm 1984;
- Chị Nguyễn Thị H6, sinh năm 1975;
- Chị Lê Thị T3, sinh năm 2000;
- Anh Cao Duy K, sinh năm 2005;
- Chị Nguyễn Thanh T4, sinh năm 2000;
- Chị Nguyễn Phương Đ2, sinh năm 1991;
- Chị Trần Thị Như Q2, sinh năm 2004;
- Chị Ngô Thị V2, sinh năm 1995;
- Chị Trần Thị L, sinh năm 1985;
Nơi cư trú: L, phường P, TP H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Nơi cư trú: Xóm D, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình.
Nơi cư trú: Thôn G, phường Đ, thành phố T, tỉnh Ninh Bình.
Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Vinhome O, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội.
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
Nơi cư trú: Thôn Q, xã N, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
Nơi cư trú: Thôn Á, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
Nơi cư trú: Khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.
(Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đào Hải Q làm nghề lao động tự do tại địa phương, không hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh vận tải. Quá trình tham gia mạng xã hội Facebook, Q thấy nhiều nhà xe khách chạy tuyến B - N (trong đó có Nhà xe H9, A, H, ...) đăng tải bài viết trên các hội, nhóm để tìm kiếm khách hàng đặt vé xe trực tuyến nên đã nảy sinh ý định tạo lập tài khoản Facebook và Z giả mạo các nhà xe nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt tiền đặt cọc vé xe của khách hàng để lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Khoảng tháng 10/2023, Q sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max màu vàng truy cập mạng G mua tài khoản Facebook của một người không rõ tên tuổi, địa chỉ và mua một sim điện thoại số 0964.970.xxx của nhà mạng Viettel để tạo lập tài khoản Facebook, Z giả mạo đặt tên là “Xe khách Hoàng LI”. Sau khi tạo lập xong, Q truy cập vào trang Facebook thật của nhà xe H9 để tải hình ảnh của nhà xe về điện thoại di động rồi sử dụng phần mềm chỉnh sửa thay đổi số điện thoại liên hệ thật của nhà xe thành số điện thoại 0964.970.xxx, sử dụng tài khoản Facebook giả mạo nhà xe tham gia vào nhiều hội nhóm xe khách Bắc Nam, sao chép lại các bài đăng trên trang Facebook thật của Nhà xe H9 để đăng bài quảng cáo cùng hình ảnh đã chỉnh sửa nhằm tìm kiếm khách hàng có nhu cầu đặt vé. Khi có khách hàng gọi điện thoại đặt vé, Q tự nhận mình là nhân viên của nhà xe H9 và hướng dẫn khách hàng kết bạn qua tài khoản Zalo để được tư vấn kỹ hơn. Q hỏi khách hàng các thông tin như họ tên, địa chỉ, địa điểm đón trả, số lượng khách đi, thời gian đi... để tạo niềm tin cho khách hàng rồi thông báo giá vé xe, cước xe và yêu cầu khách hàng đặt cọc tiền vé để giữ ghế và xuất mã vé, khi khách hàng đồng ý thì Q cung cấp tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần K1 (T6) số 19034806829016, chủ tài khoản “DAO HAI QUAN” để khách hàng chuyển tiền. Sau khi nhận được tiền đặt cọc, Q chặn Z và số điện thoại để khách hàng không liên hệ được nữa.
Sau 01 tháng thấy lượng khách hàng có nhu cầu đặt vé xe trực tuyến tăng nên Q tiếp tục đặt mua thêm 02 sim điện thoại của nhà mạng Viettel, số thuê bao lần lượt là 0862.716.080 và 0968.727.913 lắp vào 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 để tạo lập thêm 02 tài khoản Facebook, Z có tên hiển thị là “Nhà Xe Hùng H7” và “Nhà Xe Ánh Tuyên” để giả danh nhà xe H10 có địa chỉ tại thôn V, xã N, huyện T, còn tên nhà xe Ánh T5 là do Q tự nghĩ ra rồi tiếp tục đăng lên các hội nhóm trên Facebook để tìm kiếm khách hàng nhằm chiếm đoạt tiền đặt cọc vé xe.
Trong khoảng thời gian từ ngày 07/01/2024 đến ngày 18/02/2024, Đào Hải Q đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 12 người với tổng số tiền là 13.450.000 đồng, cụ thể như sau:
- - Ngày 07/01/2024, ông Lê Quốc V lên mạng xã hội Facebook tìm kiếm xe khách đi từ Hà Nội đến Quảng Bình thì thấy bài đăng quảng cáo của nhà xe H9 (do Q đăng) nên gọi điện thoại liên hệ đặt 02 vé xe khách, Q xưng là nhà xe H9 chạy tuyến Hà Nội - Quảng Bình với giá vé là 1.050.000 đồng/01 vé đồng thời yêu cầu ông V đặt cọc tiền vé xe để giữ ghế. Do tin tưởng nên ông V đã sử dụng tài khoản Ngân hàng Q3 (M) số 0302001666888 chuyển đến tài khoản Đào Hải Q do Q cung cấp số tiền 2.100.000 đồng để đặt mua 02 vé, nhận được tiền, Q chặn liên lạc với ông V.
- - Trong các ngày 20/01, 21/01 và 22/01/2024, Q lừa đảo chiếm đoạt của 3 người với tổng số tiền 4.250.000 đồng, cụ thể như sau:
- + Ngày 20/01/2024, chị Lại Thị Lưu H3 lên Facebook tìm kiếm xe khách đi từ thành phố T đến thành phố P, tỉnh Bình Thuận thì thấy bài đăng quảng cáo của nhà xe H10 (do Q đăng) nên gọi điện thoại liên hệ đặt 01 vé xe khách và gửi một chiếc xe môtô, Q tự nhận mình là nhà xe H10, có xe chạy tuyến Thái Nguyên - P và thông báo giá vé xe là 1.000.000 đồng/01 vé, cước gửi xe mô tô là 600.000 đồng, đồng thời yêu cầu chị H3 đặt cọc tiền vé xe và tiền cước gửi hàng. Do tin tưởng nên chị H3 đã sử dụng tài khoản ngân hàng M, số B chuyển đến tài khoản Đào Hải Q số tiền 1.600.000 đồng, nhận được tiền, Q chặn liên lạc với chị H3.
- + Ngày 21/01/2024, anh Nguyễn Minh T lên Facebook tìm kiếm xe khách đi từ Đồng Nai đến Nam Định thì thấy bài đăng quảng cáo của nhà xe H9 (do Q đăng) nên gọi điện thoại liên hệ đặt 03 vé xe khách, Q tự nhận mình là nhà xe H9, có xe chạy tuyến Đồng Nai - Nam Định và thông báo giá vé là 1.400.000 đồng/01 vé đồng thời yêu cầu anh T đặt cọc trước số tiền tương ứng 01 vé xe để giữ ghế. Do tin tưởng nên anh T đã sử dụng tài khoản Ngân hàng M số 9704229200116344564 chuyển đến tài khoản Đào Hải Q số tiền 1.400.000 đồng, nhận được tiền, Q chặn liên lạc với anh T.
- + Ngày 22/01/2024, chị Đặng Thị Mỹ P1 lên Facebook tìm kiếm xe khách đi từ Bình Định đến Hà Tĩnh thì thấy bài đăng quảng cáo của nhà xe H10 (do Q đăng) nên gọi điện thoại liên hệ đặt 01 vé xe khách, Q tự nhận mình là nhà xe H10, có xe chạy tuyến Bình Dương - Hà Tĩnh và thông báo giá vé xe là 1.250.000 đồng/01 vé đồng thời yêu cầu chị P1 đặt cọc tiền vé xe để giữ chỗ. Do tin tưởng nên chị P1 đã sử dụng tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ3 (B1) số 65110002228335 chuyển đến tài khoản Đào Hải Q số tiền 1.250.000 đồng, nhận được tiền, Q chặn liên lạc với chị P1.
- - Trong các ngày 02/02, 03/02 và 04/02/2024, Q lừa đảo chiếm đoạt của 4 người với tổng số tiền 4.200.000 đồng, cụ thể như sau:
- + Ngày 02/02/2024, anh Hoàng Nghĩa T1 lên Facebook tìm kiếm xe khách đi từ Bình Dương đến Nghệ An thì thấy bài đăng quảng cáo của nhà xe H9 (do Q đăng) nên gọi điện thoại liên hệ đặt 02 vé xe khách, Q tự nhận mình là nhà xe H9, có xe chạy tuyến Bình Dương - Nghệ An và thông báo giá vé là 1.250.000 đồng/01 vé đồng thời yêu cầu anh T1 đặt cọc trước số tiền tương ứng 01 vé xe để giữ ghế. Do tin tưởng nên anh T1 đã sử dụng tài khoản Ngân hàng N1 (A) số 5104205036526 chuyển đến tài khoản Đào Hải Q số tiền 1.250.000 đồng, nhận được tiền Quân chặn liên lạc với anh Hoàng Nghĩa T1.
- + Ngày 02/02/2024, anh Trần Văn T2 lên Facebook tìm kiếm xe khách đi từ thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đến thành phố H, tỉnh Quảng Nam thì thấy bài đăng quảng cáo của nhà xe H9 (do Q đăng) nên gọi đến số điện thoại liên hệ đặt 01 vé xe khách, Q tự nhận mình là nhà xe H9, có xe chạy tuyến trên và thông báo giá vé là 650.000 đồng/01 vé đồng thời yêu cầu anh T2 đặt cọc tiền vé xe để giữ ghế. Do tin tưởng nên anh T2 đã sử dụng tài khoản Ngân hàng T6 số 19026319645012 chuyển đến tài khoản Đào Hải Q số tiền 650.000 đồng, nhận được tiền, Q chặn liên lạc với anh T2 để chiếm đoạt số tiền trên.
- + Ngày 02/02/2024, anh Nguyễn Thế H1 lên Facebook tìm kiếm xe khách đi từ Quảng Ngãi đến Hà Nội thì thấy bài đăng quảng cáo của nhà xe H10 (do Q đăng) nên gọi điện thoại liên hệ đặt 01 vé xe khách, Q tự nhận mình là nhà xe H10, có xe chạy tuyến Thanh Hóa Quảng Ngãi và thông báo giá vé là 1.250.000 đồng/01 vé đồng thời yêu cầu anh H1 đặt cọc tiền vé xe để giữ ghế. Do tin tưởng nên anh H1 đã sử dụng tài khoản Ngân hàng T6 số 19038740390013 chuyển đến tài khoản Đào Hải Q số tiền 1.250.000 đồng, nhận được tiền, Q chặn liên lạc với anh H1.
- + Ngày 03/02/2024, bà Lò Thị D lên Facebook tìm kiếm xe khách đi từ Đắk Lắk đến Hà Tĩnh thì thấy bài đăng quảng cáo của nhà xe H9 (do Q đăng) nên gọi điện thoại liên hệ đặt 01 vé xe khách, Q tự nhận mình là nhà xe H9, có xe chạy tuyến Đắk Lắk - Hà Tĩnh và thông báo giá vé là 1.050.000 đồng/01 vé đồng thời yêu cầu bà D đặt cọc tiền vé xe để giữ ghế. Do tin tưởng nên bà D đã sử dụng tài khoản Ngân hàng B1 chuyển đến tài khoản Đào Hải Q số tiền 500.000 đồng. Sau khi nhận tiền, Q tiếp tục yêu cầu bà D chuyển hết số tiền còn lại thì mới giữ chỗ nên đến sáng ngày 04/02/2024, bà D sử dụng tài khoản trên chuyển khoản cho Quân số tiền 550.000 đồng, nhận được tiền, Q chặn liên lạc với bà D.
- - Trong ngày 17/02/2024 và ngày 18/02/2024, Q lừa đảo chiếm đoạt của 04 người với tổng số tiền 2.900.000 đồng, cụ thể như sau:
- + Ngày 17/02/2024, chị Lê Thị P lên Facebook tìm kiếm xe khách đi từ thành phố M, tỉnh Quảng Ninh đến thành phố T thì thấy bài đăng quảng cáo của nhà xe H9 (do Q đăng) nên gọi điện thoại liên hệ đặt 01 vé xe khách, Q tự nhận mình là nhà xe H9, có xe chạy tuyến Quảng Ninh - Thanh Hóa và thông báo giá vé là 450.000 đồng/01 vé đồng thời yêu cầu chị P đặt cọc tiền vé xe để giữ ghế. Do tin tưởng nên chị P đã sử dụng tài khoản Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) số [...] chuyển đến tài khoản Đào Hải Q số tiền 450.000 đồng, nhận được tiền, Q chặn liên lạc với chị P.
- + Ngày 18/02/2024, anh Nguyễn Thành Đ1 lên Facebook tìm kiếm xe khách đi từ Quảng Ngãi đến N thì thấy bài đăng quảng cáo của nhà xe H10 (do Q đăng) nên gọi điện thoại liên hệ đặt 01 vé xe khách, Q tự nhận mình là nhà xe H10, có xe chạy tuyến Quảng Ngãi - Khánh Hòa và thông báo giá vé là 500.000 đồng/01 vé đồng thời yêu cầu anh Đ1 đặt cọc tiền vé xe để giữ ghế. Do tin tưởng nên anh Đ1 đã sử dụng tài khoản Ngân hàng T6 số 190346696425011 chuyển đến tài khoản Đào Hải Q số tiền 500.000 đồng, nhận được tiền, Q chặn liên lạc với anh Đ1.
- + Ngày 18/02/2024, chị Nguyễn Thị Bích H2 lên Facebook tìm kiếm xe khách đi từ Đà Nẵng đến N thì thấy bài đăng quảng cáo của nhà xe H9 (do Q đăng) nên gọi điện thoại liên hệ đặt 01 vé xe khách, Q tự nhận mình là nhà xe H9 có xe khách chạy tuyến Đà Nẵng - Khánh Hòa và thông báo giá vé là 700.000 đồng/01 vé đồng thời yêu cầu chị H2 đặt cọc tiền vé xe để giữ ghế. Do tin tưởng nên chị H2 đã sử dụng tài khoản Ngân hàng T6 số 19031679227010 chuyển đến tài khoản Đào Hải Q số tiền 700.000 đồng, nhận được tiền, Q chặn liên lạc với chị H2.
- + Ngày 18/02/2024, anh Hoàng Việt H4 lên Facebook tìm kiếm xe khách đi từ Hà Nội đến thành phố Hồ Chí Minh thì thấy bài đăng quảng cáo của nhà xe H9 (do Q đăng) nên gọi điện thoại liên hệ đặt 01 vé xe khách, Q tự nhận mình là nhà xe H9 có xe khách chạy tuyến Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh và thông báo giá vé là 1.250.000 đồng/01 vé đồng thời yêu cầu anh H4 đặt cọc tiền vé xe để giữ ghế. Do tin tưởng nên anh H4 đã sử dụng tài khoản ngân hàng M số 0356377536 chuyển đến tài khoản Đào Hải Q số tiền 1.250.000 đồng, nhận được tiền, Q chặn liên lạc với anh H4.
Với phương thức lừa đảo như trên, trong thời gian từ 08/10/2023 đến 29/01/2024 Q khai nhận còn thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 10 người gồm chị Trần Thị Như Q2 số tiền 300.000 đồng, chị Nguyễn Thanh T4 số tiền 200.000 đồng, chị Phạm Thị Thu H5 số tiền 1.400.000 đồng, chị Nguyễn Thị H6 số tiền 800.000 đồng, anh Cao Duy K số tiền 1.000.000 đồng, chị Trần Thị L số tiền 1.150.000 đồng, chị Ngô Thị V2 số tiền 600.000 đồng, chị Lê Thị T3 số tiền 800.000 đồng, chị Trần Phan Lâm V1 số tiền 800.000 đồng, anh Nguyễn Phương Đ2 số tiền 450.000 đồng. Tài liệu điều tra xác định hành vi chiếm đoạt không liên tục về mặt thời gian, số tiền dưới 2.000.000 đồng nên cơ quan điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Q.
Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2024/HS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã tuyên bố bị cáo Đào Hải Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Đào Hải Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Đào Hải Q phải bồi thường cho ông Lê Quốc V số tiền 2.100.000 đồng, anh Nguyễn Minh T số tiền 1.400.000 đồng, anh Hoàng Nghĩa T1 số tiền 1.250.000 đồng, bà Lò Thị D số tiền 1.050.000 đồng, chị Nguyễn Thị Bích H2 số tiền 700.000 đồng, chị Lê Thị P số tiền 450.000 đồng, chị Lại Thị Lưu H3 số tiền 1.600.000 đồng, chị Đặng Thị Mỹ P1 số tiền 1.250.000 đồng, chị Trần Phan Lâm V1 số tiền 800.000 đồng, chị Phạm Thị Thu H5 số tiền 1.400.000 đồng, chị Nguyễn Thị H6 số tiền 800.000 đồng, anh Nguyễn Phương Đ2 số tiền 450.000 đồng, chị Trần Thị Như Q2 số tiền 300.000 đồng, chị Trần Thị L số tiền 1.150.000 đồng. Tổng cộng 14.700.000 đồng (Mười bốn triệu bảy trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 25/9/2024, bị cáo Đào Hải Q nộp đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã kết luận, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, có cơ hội sửa chữa sai lầm, phấn đấu sống có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo nộp tài liệu là sao kê tài khoản có xác nhận của Ngân hàng chứng minh bị cáo đã thực hiện nghĩa vụ hoàn trả số tiền chiếm đoạt cho bị hại, những người có quyền lợi liên quan có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gồm: chuyển khoản trả cho anh Nguyễn Minh T số tiền 1.400.000 đồng, anh Hoàng Nghĩa T1 1.250.000 đồng, chị Lại Thị Lưu H3 1.600.000 đồng và chị Trần Thị L 1.150.000 đồng, tổng cộng là 5.400.000 đồng và số tiền 9.700.000 đồng bị cáo đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000981 ngày 14/02/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình gồm ông Lê Quốc V 2.100.000 đồng, bà Lò Thị D số tiền số tiền 1.050.000 đồng, chị Nguyễn Thị Bích H2 số tiền 700.000 đồng, chị Lê Thị P số tiền 450.000 đồng, chị Đặng Thị Mỹ P1 số tiền 1.250.000 đồng, chị Trần Phan Lâm V1 số tiền 800.000 đồng, chị Phạm Thị Thu H5 số tiền 1.400.000 đồng, chị Nguyễn Thị H6 số tiền 800.000 đồng, anh Nguyễn Phương Đ2 số tiền 450.000 đồng, chị Trần Thị Như Q2 số tiền 300.000 đồng, còn lại số tiền 400.000 đồng của bị cáo cần tiếp tục quản lý để bảo đảm thi hành án phí sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm. Những người còn lại không yêu cầu bị cáo Q phải bồi thường
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của bị cáo, tình tiết bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu tại cấp phúc thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình theo hướng giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo Đào Hải Q.
Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết của Hội đồng Thảm phán Toà án nhân dân tối cao, cho bị cáo được hưởng án treo để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo bị cáo Đào Hải Q làm trong thời hạn luật định nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
- Xét hành vi phạm tội của bị cáo Đào Hải Q: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ căn cứ để xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 07/01/2024 đến ngày 18/02/2024, Đào Hải Q đã 04 lần dùng thủ đoạn tạo lập tài khoản Facebook và Z giả mạo các nhà xe H, H để yêu cầu khách có nhu cầu gửi hàng hoặc đặt vé đi xe khách phải chuyển tiền vào tài khoản của Q để đặt cọc giữ ghế hoặc đặt vé nhưng khi nhận được tiền, Q đã chặn liên lạc để chiếm đoạt với tổng số tiền 13.450.000 đồng của 12 người gồm: ông Lê Quốc V, anh Nguyễn Minh T, anh Nguyễn Thế H1, anh Nguyễn Thành Đ1, anh Hoàng Nghĩa T1, bà Lò Thị D, chị Nguyễn Thị Bích H2, chị Lê Thị P, chị Lại Thị Lưu H3, anh Hoàng Việt H4, anh Trần Văn T2 và chị Đặng Thị Mỹ P1. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo Đào Hải Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
“Điều 174 Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
- Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nội dung kháng cáo của bị cáo thì thấy:
Bị cáo đã lợi dụng tâm lý, nhu cầu muốn về quê ăn tết của những người xa quê ở các vùng miền khác nhau trên toàn quốc trong thời điểm cận tết khan hiếm phương tiện đi lại để lừa đảo để chiếm đoạt tài sản, hành vi đó không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây bức xúc, mất lòng tin trong nhân dân, làm mất uy tín của các nhà xe kinh doanh vận tải đúng pháp luật.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả của hành vi nhưng do lười lao động, hám lợi mà cố ý phạm tội, phạm tội nhiều lần đối với nhiều người, sau khi bị phát hiện không tự giác hoàn lại số tiền đã chiếm đoạt để khắc phục hậu quả. Tòa án cấp sơ thẩm đã đã cân nhắc về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để quyết định xử phạt bị cáo 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù là tương xứng với hành vi của bị cáo.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình tài liệu chứng minh đã thanh toán đầy đủ cho bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt qua hình thức chuyển khoản, những người không rõ tài khoản thì bị cáo nộp tiền theo Biên lai thu tiền số 0000981 ngày 14/02/2025 tại Cục thi hành án dân sự thể hiện bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ trách nhiệm dân sự của bản án sơ thẩm. Đây là tình tiết mới phát sinh, thể hiện ý thức chấp hành bản án của bị cáo. Do đó, cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt theo yêu cầu kháng cáo của bị cáo đồng thời xác định lại trách nhiệm dân sự của bị cáo. Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường dân sự của bị cáo cho bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Không có cơ sở cho bị cáo hưởng án treo như yêu cầu của bị cáo và đề nghị của các Luật sư do tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo như đã phân tích ở trên.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.
- Về trách nhiệm dân sự sơ thẩm: Chấp nhận sự tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thông qua hình thức chuyển khoản là 5.400.000 đồng và nộp tiền tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình là 9.700.000 đồng (tổng số tiền là 15.100.000 đồng), bị cáo đã hoàn thành xong trách nhiệm dân sự trong vụ án. Đối trừ với số tiền bị cáo đã nộp theo Biên lai thu tiền tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình, trả lại bị cáo số tiền 400.000 đồng nhưng cần tiếp tục quản lý để bảo đảm thi hành án phí sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm.
- Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 86/2024/HS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Hải Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Đào Hải Q 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bồi thường cho ông Lê Quốc V số tiền 2.100.000 đồng, anh Nguyễn Minh T số tiền 1.400.000 đồng, anh Hoàng Nghĩa T1 số tiền 1.250.000 đồng, bà Lò Thị D số tiền 1.050.000 đồng, chị Nguyễn Thị Bích H2 số tiền 700.000 đồng, chị Lê Thị P số tiền 450.000 đồng, chị Lại Thị Lưu H3 số tiền 1.600.000 đồng, chị Đặng Thị Mỹ P1 số tiền 1.250.000 đồng, chị Trần Phan Lâm V1 số tiền 800.000 đồng, chị Phạm Thị Thu H5 số tiền 1.400.000 đồng, chị Nguyễn Thị H6 số tiền 800.000 đồng, anh Nguyễn Phương Đ2 số tiền 450.000 đồng, chị Trần Thị Như Q2 số tiền 300.000 đồng, chị Trần Thị L số tiền 1.150.000 đồng. Tổng cộng số tiền 14.700.000 đồng, bị cáo đã hoàn thành xong trách nhiệm dân sự trong vụ án. Trả lại số tiền 400.000 đồng còn lại bị cáo đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000981 ngày 14/02/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình nhưng cần tiếp tục quản lý của bị cáo để bảo đảm thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đào Hải Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 14/02/2025./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thúy Hoàn |
12
Bản án số 20/2025/HS-PT ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 20/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Hải Q phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
