Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/HS-ST

Ngày 14-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Hùng và ông Hạng Minh Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện VKSND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lệ X - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại tại Phòng xét xử số 3 - Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 379/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Ân Văn H, tên gọi khác; Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10 tháng 11 năm 1994, tại: Thái Nguyên; Nơi thường trú: xóm C, xã L, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán dìu. Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ (Đảng, đoàn thể, chính quyền) trước khi phạm tội: Không; Con ông: Ân Văn T, sinh năm 1971; Con bà: Đặng Thị T1, sinh năm 1971; Vợ: Hoàng Thị L (Đã ly hôn); Bị cáo có 01 con, sinh năm 2016; Gia đình có 02 anh, em bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án số 79 ngày 27/10/2017 Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 5 tháng tù về tội “Đánh bạc”; Bản án số 22/HSPT ngày 02/02/2018 Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 05 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng. Chấp hành xong ngày 05/02/2019. Chấp hành xong tiền án phí, tiền phạt ngày 18/4/2018.

Hiện bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nông Văn T2, sinh năm 1983, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ E, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Hiện đang điều trị cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên; địa chỉ: Tổ E, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

2. Anh Ngô Xuân N, sinh năm 1988, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: TDP A, phường M, TP., tỉnh Thái Nguyên.

- Người chứng kiến: Anh Phạm Tiến B, sinh năm 1983, vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ E, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 07 giờ 50 ngày 15/9/2024, Tổ công tác của Công an phường T, thành phố T đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực đường T của phường thì phát hiện 01 người đàn ông điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20H1-050.63 và 01 người đàn ông điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 20D1- 101.58 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì người đàn ông điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20H1-050.63 bỏ chạy được khoảng 5m thì bị giữ lại. Quá trình kiểm tra người đàn ông điều khiển xe mô tô mô tô biển kiểm soát 20D1- 101.58 khai nhận tên là Nông Văn T2, người đàn ông điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20H1-050.63 khai nhận tên là Ân Văn H và H tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng và số tiền 200.000 đồng. Kiểm tra 01 túi đeo ngang bụng màu ghi đen bên trong có 07 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng và 02 gói nilon màu trắng, trong mỗi gói nilon có 01 gói giấy bạc màu trắng chứa chất bột màu trắng chứa chất bột màu trắng và 01 viên dạng nén màu hồng. H khai chất bột màu trắng trong các gói màu trắng là ma tuý Heroine, 02 viên nén màu hồng là ma tuý hồng phiến, số tiền 200.000 đồng là tiền T2 vừa đưa cho H để mua ma tuý. Kiểm tra 02 xe mô tô Biển kiểm soát 20D1- 101.58 và biển kiểm soát 20H1-050.63 và Nông Văn T2 không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của H 200.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng, số IMEI: 352841115545601; 01 điện thoại di động nhân hiệu IPHONE màu vàng, số IMEI: 354837096153033; 01 túi xách màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đen vàng, gắn biển kiểm soát: 20H1 RLCS5C64BY633327, số máy: 5C64633340 đã qua sử dụng.

Hồi 09 giờ 30 ngày 16/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ân Văn H tại xóm C, xã L, thành phố T. Kết quả không phát hiện thu giữ gì.

Tại biên bản kiểm tra chất ma tuý hồi 11 giờ đến 11 giờ 20 đối với Nông Văn T2 và Ân Văn H kết quả: Dương tính với ma tuý Heroine.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hảnh cân xác định khối lượng: Cân toàn bộ số chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu K1 có khối lượng 0,360 gam, lấy toàn bộ số chất bột màu trắng trên gửi giám định ký hiệu H1

Cân toàn bộ số chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu K2 có khối lượng 1,626 gam, lấy toàn bộ số chất bột màu trắng trên gửi giám định ký hiệu H1.

Cân toàn bộ số viên nén màu hồng trong bì niêm phong ký hiệu H2 có khối lượng 0,200 gam, lấy toàn bộ số viên nén màu hồng trên gửi giám định ký hiệu H2.

Tại bản Kết luận giám định số 1019/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  • - Mẫu chất bột màu trắng trong bì niêm phong bì niêm phong ký hiệu H gửi giám định là chất ma tuý: Loại Heroine: Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,360 gam;
  • - Mẫu chất bột màu trắng trong bì niêm phong bì niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định là chất ma tuý: Loại Heroine: Khối lượng thu giữ ban đầu là 1,626 gam.
  • - Mẫu viên nén màu hồng trong bì niêm phong ký hiệu H2 gửi giám định là chất ma tuý, Loại Methamphetamine; Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,200 gam; (Heroine có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma uý và tiền chất).

Tại Cơ quan điều tra, Ân Văn H khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 14/9/2024, H đi bộ từ nhà ra khu vực đường dân sinh thuộc xóm C, xã L, thành phố T mục đích tìm mua ma tuý về bán kiếm lời. Tại đây, H gặp và mua của người đàn ông không quen biết được 08 gói bằng giấy bạc màu trắng bên trong đều chứa ma túy Heroine: 02 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa ma túy Heroine cùng 01 viên ma túy Hồng phiến với giá 1500.000 đồng. Mua xong, H mang về phòng ngủ và cất giấu vào trong túi xách màu đen. Đến khoảng 6 giờ 30 phút ngày 15/9/2024, H cầm theo túi xách màu đen chứa các gởi ma túy trên rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 20H1- 5063 đi ra khu vực cổng Tam quan thuộc phường T, thành phố T để bán số ma túy kiếm lời. Đến khoảng 7 giờ cùng ngày, H nhận được cuộc điện thoại của Nông Văn T2, sinh năm: 1983, nơi thường trú: Tổ E, phường T, thành phố T gọi hỏi mua 01 gói ma túy, loại Heroine. H đồng ý và hẹn T2 đến khu vực cổng T, phường T, thành phố T để giao dịch mua bán ma tuý. Khi T2 đến nơi hẹn, T2 đưa cho H 200.000 đồng để mua ma túy, H

cầm tiền rồi lấy từ trong túi xách màu đen đang đeo trên người ra 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa ma túy Heroine để bán cho T2 nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác Công an phường T, thành phố T bắt quả tang. Tổ công tác tiếp tục kiểm tra người H phát hiện trong túi xách đeo trên người H có 07 gói giấy bạc màu trắng bên trong đều chứa chất bột màu trắng; 02 gói nilon màu ng trăng bên trong chứa chất bột màu trắng cùng 01 viên nén màu hồng (H khai nhận chất bột màu trắng là ma túy Heroine và 01 viên nén màu hồng là ma túy Hồng phiến) mục đích để bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như nêu trên.

Cáo trạng số 08/CT-VKS-TPTN ngày 26 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Ân Văn Hoàng về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã trình bày bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố.

Sau khi đánh giá chứng cứ đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ân Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Ân Văn H từ 42 đến 48 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.

Về vật chứng:

  • - Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 03 bì niêm phong ký hiệu H, H1, H2 bên trong chứa mẫu ma túy hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu H3 bên trong chứa bì niêm phong ban đầu; 01 túi màu ghi đen, dây màu đen; 02 xi lanh và 02 ống nước cất.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 200.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng, số IMEI: 354837096153033 đã qua sử dụng của bị cáo; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xám xanh, số IMEI 1: 862991070980377, IMEI 2: 862991070980369 của Nông Văn T2.
  • - Tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng, số IMEI: 352841115545601 đã qua sử dụng của Ân Văn H.
  • - Trả lại: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen vàng, biển kiểm soát 20H1 - 050.63, số khung RLCS5C640BY633327, số máy 5C64633340, xe đã qua sử dụng đăng ký mang tên Tạ Thị H2 sinh năm 1993, địa chỉ Thôn L, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên cho anh Ngô Xuân N; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 20D1-101 .58, số khung: RLCS5C6K0GY279507, số máy: 5C6K279507, đã qua sử dụng mang tên Triệu Nho N1 sinh năm 1992, địa chỉ xóm T, xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên cho Nông Văn T2.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận với Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội.

Xét thấy, lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, đã có đủ cơ sở để xác định: Hồi 7 giờ 50 phút, ngày 15/9/2024, tại tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Ân Văn H có hành vi tàng trữ 1,986 gam ma túy, loại Heroine và 0,200 gam ma tuý loại Methamphetamine, mục đích để bán kiếm lời thì bị tổ công tác của Công an phường T, thành phố T bắt quả tang, thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Ân Văn H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Nội dung điều luật quy định như sau:

“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật đã quy định.

[3]. Xét tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước, làm mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Ma túy là một loại độc dược gây nghiện khi sử dụng nó sẽ làm con người bị lệ thuộc và mất đi nhân cách, nó còn là một trong những nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Hành vi nêu trên của bị cáo bị pháp luật ngăn cấm, bị xã hội lên án, do đó cần phải bị xử phạt mức án nghiêm khắc để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4]. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết xử phạt bị cáo Ân Văn H buộc cách ly xã hội mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Đồng thời cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự còn có quy định:

“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Xét thấy bị cáo mua ma túy về bán cho các đối tượng nghiện ma túy để kiếm lời, bị cáo không thuộc hộ nghèo, cận nghèo nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo 5.000.000 đồng.

[7]. Về vật chứng của vụ án cần được xử lý như sau:

  • - 03 bì niêm phong ký hiệu H, H1, H2 bên trong chứa mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu H3 bên trong chứa bì niêm phong ban đầu; 01 túi màu ghi đen, dây màu đen; 02 xi lanh và 02 ống nước cất. Đây là vật chứng vụ án cấm sử dụng, không có giá trị sử dụng và tài sản của bị cáo không yêu cầu trả lại cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 200.000 đồng tiền do bị cáo bán ma túy mà có và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng, số IMEI: 354837096153033 đã qua sử dụng của bị cáo dùng

để liên lạc bán ma túy cho các con nghiện; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xám xanh, số IMEI 1: 862991070980377, IMEI 2: 862991070980369 của Nông Văn T2 dùng để trao đổi mua ma túy với bị cáo H. Do đó, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng, số IMEI: 352841115545601 đã qua sử dụng của Ân Văn H không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo quản lý sử dụng. Tuy nhiên, cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
  • - 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát 20H1 - 050.63, nhãn hiệu YAMAHA, số loại: SIRIUS, màu sơn: Đen vàng, loại xe: Hai bánh từ 50 - 173cm³, dung tích xi lanh: 110cm³. Số máy: 5064633340, số khung: RLCS5C640BY633327. Xe hoàn chỉnh, tổng thành khung cùng thông số kỹ thuật, xe đã qua sử dụng đăng ký mang tên Tạ Thị H2 sinh năm 1993, địa chỉ Thôn L, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên tạm giữ của Ngô Xuân N; 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát 20D1 - 101.58, nhãn hiệu YAMAHA, số loại: SIRIUS, màu sơn: Đỏ đen, loại xe: Hai bánh từ 50 - 175cm³, dung tích xi lanh: 110cm³, số máy: 5C6K279507, số khung: RLCS5C6K0GY279507. Xe hoàn chỉnh, tổng thành khung cùng thông số kỹ thuật, đã qua sử dụng mang tên Triệu Nho N1 sinh năm 1992, địa chỉ xóm T, xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên tạm giữ của Nông Văn T2. Đây là tài sản của anh N và anh T2 không liên quan đến vụ án, nên cần trả cho anh N và anh T2 quản lý sử dụng.

[8]. Đối với nguồn gốc số ma tuý thu giữ, H khai mua của một nam thanh niên không rõ lai lịch địa chỉ tại đường dân sinh thuộc xóm C, xã L, thành phố T. Quá trình điều tra do không xác định được nhân thân lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để mở rộng vụ án.

[9]. Đối với Nông Văn T2, tuy đã có hành vi đưa tiền cho H để mua ma tuý Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa mua được. Xét thấy hành vi của T2 chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự. T2 là đối tượng nghiện ma tuý nên Công an thành phố T lập hồ sơ đưa T2 đi cai nghiện bắt buộc. Ngày 17/10/2024 Toà án Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T2 thời hạn là 18 tháng.

[10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[11]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên toà hôm nay về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, khung hình phạt và các vấn đề liên quan trong vụ án đối với bị cáo là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Ân Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, 136, 299, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hình phạt chính: Xử phạt Ân Văn H 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/9/2024.

Quyết định tạm giam bị cáo Ân Văn H 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

  1. Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo 5.000.000 (năm triệu) đồng.
  2. Về vật chứng:
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu H bên trong có 0,343gam mẫu H và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu H1 bên trong có 1,604gam mẫu HI và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu H2 bên trong có 0,104gam mẫu H2 và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu H3 chứa bì ban đầu; 01 túi màu ghi đen, dây màu đen; 02 xi lanh và 02 ống nước cất.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 200.000 đồng và 01 bì niêm phong ký hiệu AVH bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu vàng, số IMEI: 354837096153033 đã qua sử dụng của bị cáo Ân Văn H; 01 bì niêm phong ký hiệu NVT bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xám xanh, số IMEI 1: 862991070980377, IMEI 2: 862991070980369 của Nông Văn T2.
  • - Tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án: 01 bì niêm phong ký hiệu ANH1 bên trong chứa 01 điện thoại di động nhăn hiệu IPHONE màu vàng, số IMEI: 352841115545601 đã qua sử dụng của bị cáo Ân Văn H.
  • - Trả lại: 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát 20H1 - 050.63, nhãn hiệu YAMAHA, số loại: SIRIUS, màu sơn: Đen vàng, loại xe: Hai bánh từ 50 - 173cm³, dung tích xi lanh: 110cm³. Số máy: 5064633340, số khung: RLCS5C640BY633327. Xe hoàn chỉnh, tổng thành khung cùng thông số kỹ thuật cho anh Ngô Xuân N; 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát 20D1 - 101.58, nhãn hiệu YAMAHA, số loại: SIRIUS, màu sơn: Đỏ đen, loại xe: Hai bánh từ 50 - 175cm³, dung tích xi lanh: 110cm³, số máy: 5C6K279507, số khung: RLCS5C6K0GY279507. Xe hoàn chỉnh, tổng thành khung cùng thông số kỹ thuật cho anh Nông Văn T2.

(Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục THADS thành phố T theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T với Chi cục THA dân sự thành phố T số 101 ngày 13/02/2025; Số tiền 200.000 đồng theo giấy Ủy nhiệm chi số 07 ngày 17/01/2025).

  1. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
  2. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND TP. Thái Nguyên;
  • - CQĐT Công an TP. Thái Nguyên;
  • - CA phường Thịnh Đán;
  • - Cơ quan THAHS Công an TP. Thái Nguyên;
  • - Trại tạm giam tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS TP. Thái Nguyên;
  • - Bị cáo; NCQL nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: HS, VT, THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 20/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ân Văn Hoàng PT mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger