Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-ST

Ngày: 12 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thanh Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Phước
  2. Ông Hà Văn Châu

Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Bích Ngọc – Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: ông Trần Văn Hướng – Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 209/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 01 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Đặng Bá L, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1978, tại Sóc Trăng; nơi thường trú: số B, đường L, Khóm B, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 02/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Bá H (chết) và bà Võ Thị Ngọc H1; có vợ (ly hôn), 01 người con; tiền sự: không; tiền án: không; về nhân thân: vào ngày 08/9/2005, bị Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 08 năm tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong vào ngày 30/5/2012; vào ngày 21/8/2020, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường H3, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với lý do là đối tượng nghiện ma tuý, thời hạn 03 tháng, chấp hành xong vào ngày 22/11/2020 và vào ngày 24/9/2021, bị Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong vào ngày 23/5/2022. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23 tháng 8 năm 2024, sau đó chuyển sang tạm giam đến ngày 09 tháng 01 năm 2025 thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay. (có mặt)
  2. Nguyễn Văn D, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1986, tại Sóc Trăng; nơi thường trú: số C, đường T, Khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nơi ở hiện tại: số C, đường T, Khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: công nhân; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 12/12 (bị cáo khai tại toà: 6/12); giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M (chết) và bà Phạm Thị H2; có vợ, 01 người con; tiền sự: không; tiền án: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21 tháng 8 năm 2024, sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay. (có mặt)
  • Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn D: ông Nguyễn Văn B là Trợ giúp viên pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý nhà nước thuộc Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  • Người làm chứng: ông Nguyễn Tấn N, địa chỉ: ấp T, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 21 tháng 8 năm 2024, Nguyễn Văn D đang ở nhà trọ, tại số C, đường T, Khóm B, Phường E, thành phố S, thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên D điều khiển xe mô tô biển số 39F2-5215 đi đến nhà của Đặng Bá L, tại số B, đường L, Khóm B, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng mua ma túy về sử dụng. Khi đến nhà L, D mua L một gói ma túy với số tiền 200.000 đồng, sau đó D cầm gói ma túy trên tay và điều khiển xe mô tô về nhà để sử dụng. Khi D điều khiển xe mô tô đến khu vực trước nhà số B, đường T, Khóm A, Phường E, thành phố S, thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố S phối hợp với Công an P, thành phố S kiểm tra, phát hiện. Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện trên mặt đường nơi D dừng xe mô tô biển số 39F2-5215 có một gói nylon bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng, nghi vấn là ma túy nên lực lượng chức năng đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và trưng cầu cơ quan chuyên môn giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 169/KLMT-KTHS ngày 26/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận: mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,1121 gam, loại Methamphetamine.

Sau khi bắt quả tang D, lực lượng chức năng tiến hành khám xét nơi cư trú của Đặng Bá L, tại số B, đường L, Khóm B, Phường H, thành phố S, thì phát hiện bên trong tủ kim loại trong nhà có 27 gói nylon chứa chất rắn màu trắng (Gói 1) và bên trong phòng ngủ của L có 15 gói nylon chứa chất rắn màu trắng (Gói 2) cùng một số dụng cụ liên quan đến hành vi mua bán và sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 171/KLMT-KTHS ngày 30/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận:

Gói 1: mẫu chất rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 3,7417 gam, loại Methamphetamine.

Gói 2: mẫu chất rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 2,0198 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, xác định: Đặng Bá L mua bán trái phép chất ma túy từ tháng 7 năm 2024 đến ngày 22 tháng 8 năm 2024 thì bị phát hiện. Trong thời gian bán ma túy, L bán cho D 02 lần, mỗi lần một gói ma túy với số tiền 200.000 đồng; bán cho Nguyễn Tấn N, sinh năm 2003, cư trú tại ấp T, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng 01 lần với số tiền 300.000 đồng và bán cho nhiều người khác (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể). Cách thức bán ma túy là khi có người cần mua ma túy thì đến nhà L, tại số B, đường L, Khóm B, Phường H, thành phố S để mua. Nguồn gốc ma túy để L bán cho người mua là của L mua của một người nam (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) ở thành phố Hồ Chí Minh; sau khi mua được ma túy, L mang về nhà cất giấu và phân thành từng gói nhỏ để bán lại cho người chơi. Từ khi hoạt động mua bán trái phép chất ma túy đến khi bị phát hiện, L thu lợi bất chính số tiền khoảng 1.000.000 đồng và ma túy để sử dụng.

Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra tạm giữ các vật chứng sau: 01 gói niêm phong vụ số 169/2024 ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S; 02 gói niêm phong vụ số 171/2024 ngày 01 tháng 9 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S; 20 gói nylon trong hở một đầu, 01 đoạn ống nhựa màu vàng, 01 đoạn ống nhựa trong sọc trắng đều được cắt xéo, 01 đoạn ống thủy tinh có một đầu tròn, 02 cây kéo bằng kim loại, 01 đoạn ống nhựa màu xanh, 20 gói nylon trong; 20 gói nylon trong có viền màu đỏ loại bóp miệng; 01 chai thủy tinh bên trong có nhiều hạt nhựa có gắn một ống thủy tinh có một đầu tròn; 01 cân điện tử màu đen có chữ QC PASS; 01 hộp nhựa trong và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu đen bạc, biển số 39F2-5215.

Cáo trạng số 17/CT-VKS-TPST ngày 25 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Đặng Bá L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đặng Bá L, xử phạt bị cáo L từ 07 năm đến 08 năm tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn D, xử phạt bị cáo D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu huỷ: 01 gói niêm phong vụ số 169/2024 ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S; 02 gói niêm phong vụ số 171/2024 ngày 01 tháng 9 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S; 20 gói nylon trong hở một đầu, 01 đoạn ống nhựa màu vàng, 01 đoạn ống nhựa trong sọc trắng đều được cắt xéo, 01 đoạn ống thủy tinh có một đầu tròn, 02 cây kéo bằng kim loại, 01 đoạn ống nhựa màu xanh, 20 gói nylon trong; 20 gói nylon trong có viền màu đỏ loại bóp miệng; 01 chai thủy tinh bên trong có nhiều hạt nhựa có gắn một ống thủy tinh có một đầu tròn; 01 cân điện tử màu đen có chữ QC PASS; 01 hộp nhựa trong.
  • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn D: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu đen bạc, biển số 39F2-5215.
  • Về án phí hình sự sơ thẩm buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Tại phiên toà ông Nguyễn Văn B trình bày lời bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn D: thống nhất với cáo trạng về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, biết ăn năn, hối cải; phạm tội lần đầu, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, bị cáo chỉ sử dụng 02 lần, bị cáo chưa nghiện nên cho bị cáo cơ hội sửa sai, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố; các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn, hối cải; không có tranh luận với Kiểm sát viên và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

[2] Nhận thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Đặng Bá L, Nguyễn Văn D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời thừa nhận của các bị cáo phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:

[2.1] Đối với bị cáo Đặng Bá L có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý từ tháng 7 năm 2024 đến vào ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại nhà số B, đường L, Khóm B, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Bị cáo L bán trái phép chất ma tuý cho bị cáo D 02 lần, bán cho Nguyễn Tấn N 01 lần. Khi lực lượng Công an khám xét nơi ở của bị cáo L thì thu giữ được tổng khối lượng ma tuý 5,7615 gam, loại Methamphetamine; số ma tuý này bị cáo L cất giấu nhằm mục đích để bán cho người khác. Hành vi nêu trên của bị cáo Đặng Bá L đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[2.2] Đối với bị cáo Nguyễn Văn D, vào khoảng 16 giờ ngày 21/8/2024 Công an thu giữ của bị cáo D tại khu vực nhà số B, đường T, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng 0,1121 gam ma tuý, loại Methamphetamine, số ma tuý này bị cáo D cất giấu mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn D đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý độc quyền về chất ma túy của Nhà nước và còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Cho nên, cần phải xử nghiêm các bị cáo nhằm để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm về ma tuý.

[4] Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt cũng cần phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

[4.1] Đối với bị cáo Đặng Bá L: không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; tự khai ra những lần phạm tội trước đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có trình độ học vấn thấp đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4.2] Đối với bị cáo Nguyễn Văn D: về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì không có; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, bị cáo có trình độ học vấn thấp đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng:

[5.1] Đối với: 01 gói niêm phong vụ số 169/2024 ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S; 02 gói niêm phong vụ số 171/2024 ngày 01 tháng 9 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S; 20 gói nylon trong hở một đầu, 01 đoạn ống nhựa màu vàng, 01 đoạn ống nhựa trong sọc trắng đều được cắt xéo, 01 đoạn ống thủy tinh có một đầu tròn, 02 cây kéo bằng kim loại, 01 đoạn ống nhựa màu xanh, 20 gói nylon trong; 20 gói nylon trong có viền màu đỏ loại bóp miệng; 01 chai thủy tinh bên trong có nhiều hạt nhựa có gắn một ống thủy tinh có một đầu tròn; 01 cân điện tử màu đen có chữ QC PASS; 01 hộp nhựa trong đây là hàng cấm lưu hành, vật không còn giá trị nên tịch thu tiêu huỷ.

[5.2] Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu đen bạc, biển số 39F2-5215 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo D nên trả lại cho bị cáo D.

[5.3] Đối với số tiền thu lợi của bị cáo L là 1.000.000 đồng đây số tiền thu lợi bất chính nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo Đặng Bá L phải chịu là 200.000 đồng. Đối với bị cáo Nguyễn Văn D là hộ cận nghèo có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên: về tội danh, áp dụng pháp luật, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, xử lý vật chứng phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.

[8] Xét lời đề nghị của ông Nguyễn Văn B người bào cho bị cáo Nguyễn Văn D: chỉ có cơ sở chấp nhận một phần về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về miễn án phí; không chấp nhận về mức đề nghị hình phạt đối với bị cáo, vì hiện nay tình trạng sử dụng ma tuý, các tội phạm liên quan đến ma tuý ngày càng gia tăng, phức tạp và ảnh hưởng rất lớn đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Cho nên, cần phải xử lý nghiêm các hành vi liên quan đến việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm để răn đe và phòng ngừa chung tội phạm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 38, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đặng Bá L.

Căn cứ vào: Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn D

Căn cứ vào: điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố:

bị cáo Đặng Bá L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

  1. Xử phạt bị cáo Đặng Bá L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án hoặc ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án nhưng được khấu trừ vào thời gian tạm giam từ ngày 23 tháng 8 năm 2024 đến ngày 09 tháng 01 năm 2025.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 02 (hai) năm tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 21 tháng 8 năm 2024.
  3. Về xử lý vật chứng:
    1. Tịch thu tiêu huỷ: 01 gói niêm phong vụ số 169/2024 ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S; 02 gói niêm phong vụ số 171/2024 ngày 01 tháng 9 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S; 20 gói nylon trong hở một đầu, 01 đoạn ống nhựa màu vàng, 01 đoạn ống nhựa trong sọc trắng đều được cắt xéo, 01 đoạn ống thủy tinh có một đầu tròn, 02 cây kéo bằng kim loại, 01 đoạn ống nhựa màu xanh, 20 gói nylon trong; 20 gói nylon trong có viền màu đỏ loại bóp miệng; 01 chai thủy tinh bên trong có nhiều hạt nhựa có gắn một ống thủy tinh có một đầu tròn; 01 cân điện tử màu đen có chữ QC PASS; 01 hộp nhựa trong.
    2. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn D 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu đen bạc, biển số 39F2-5215.
    3. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Đặng Bá L 1.000.000 đồng.
  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo Đặng Bá L bị cáo phải chịu 200.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn D được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - Công an thành phố Sóc Trăng;
  • - CQĐT - Công an TPST;
  • - CQTHAHS - Công an TPST;
  • - VKSND thành phố Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS - TPST;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

(Đã ký)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Bá L - Phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger