Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-PT

Ngày: 11 – 02 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Thông.

Ông Phạm Minh Tùng.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phan Thị Kim Loan- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 292/2024/TLPT- HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Trần Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Bị cáo kháng cáo:

Trần Văn T, sinh năm 1995 tại tỉnh An Giang; giới tính: Nam; nơi cư trú: Số F, tổ G, ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 và con bà Lê Thị Diệu H; bị cáo có vợ và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; tạm giữ: Không; tạm giam: không. Bị cáo hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra, trong vụ án còn có người đại diện hợp pháp của bị hại không kháng cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 40 phút, ngày 11/12/2023, Trần Văn T (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô tải biển số 83C – 094.90 chạy trên đường T, hướng đi từ thành phố S đến Quốc lộ E (địa phận tỉnh Đồng Tháp). Khi đi vào khu vực chợ G thuộc ấp T, xã P, huyện L, T thấy phía trước bên phải có đường nhánh giao nhau với đường tỉnh 853 và phát hiện có ánh đèn xe mô tô từ trong đường nhánh chạy ra (khoảng cách khoảng 40 mét), T bóp còi cảnh báo nhưng tiếp tục điều khiển xe mà không giảm tốc độ (xe T đang chạy với tốc độ trên 60 km/giờ). Khi đến gần đường nhánh thì ông Trương Công K điều khiển xe mô tô biển số 66L1-169.18 chạy từ đường nhánh ra đường T, T thấy xe của ông K chạy đến điểm giao nhau giữa đường nhánh và đường T cách xe T khoảng 10 mét, ông K chuyển hướng sang bên trái hướng đi của xe T điều khiển, do chạy tốc độ quá mức quy định, T không xử lý được tình huống nên xe của T va chạm vào xe và người ông K. Hậu quả làm ông K tử vong sau khi đưa đi cấp cứu.

Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 xe mô tô biển số 66L1 – 169.18; 01 xe ô tô tải biển số 83C – 094.90; 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] ghi tên Trần Văn T và 01 đĩa DVD ghi lại diễn biến vụ việc va chạm giao thông.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường được lập lúc 09 giờ 15 phút, ngày 11/12/2023 thể hiện: Mặt đường nơi xảy ra tai nạn được trải nhựa phẳng, rộng 07 mét, đường thẳng không bị che khuất tầm nhìn, có vạch kẻ đường màu vàng đứt quãng phân chia hai dòng phương tiện ngược chiều nhau, phía trước nơi xảy ra tai nạn giao thông khoảng 100 mét theo hướng từ thành phố S về Quốc lộ E có các biển báo “Chợ”, “Trạm dừng xe buýt”, “Giao nhau với đường không ưu tiên”. T2 vùng va chạm đo vào lề phải hướng đi xe ô tô có khoảng cách là 3,20 mét.

Tại kết luận giám định số 1398, 1399 cùng ngày 20/12/2023 của phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu máu chứa trong ống nghiệm ghi thu của Trần Văn T, Trương Công K không phát hiện thành phần nồng độ cồn Ethanol.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1391/KLGĐTT-KTHS ngày 18/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Ông Trương Công K bị chấn thương vùng đầu gây nứt xương sọ dẫn đến phù và xuất huyết não dẫn đến tử vong.

Tại kết luận giám định số 1799/KL-KTHS ngày 15/5/2024 của Phân viện Kỹ thuật hình sự Bộ C tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

  • Không phát hiện thấy dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa về nội dung trong tập tin video gửi giám định;
  • Tốc độ xe ô tô gắn camera hành trình liên quan đến vụ tai nạn giao thông trong nội dung tập tin video thời điểm ngay trước khi xảy ra va chạm (thời gian hiển thị 5:34:17 ngày 11/12/2023) là từ 63,6 km/giờ đến 64,9 km/giờ.

Tại Kết luận định giá tài sản số 70/KL-ĐGTS ngày 28/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: Xe ô tô tải biển số 83C – 094.90 thiệt hại là 27.330.400 đồng; xe mô tô biển số 66L1 – 169.18 thiệt hại là 1.545.000 đồng. Tổng cộng là 28.875.400 đồng.

Trong quá trình điều tra, anh Trương Nhựt D là người đại diện theo pháp luật của bị hại Trương Công K yêu cầu Trần Văn T bồi thường thiệt hại do tính mạng của ông K bị xâm hại với tổng số tiền là 140.000.000 đồng. Bị cáo T đã bồi thường xong. Ngày 09/01/2024, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo T, ngoài ra không còn yêu cầu gì thêm.

Sau khi các bên thỏa thuận dân sự xong, ngày 11/01/2024 Cơ quan điều tra đã trả xe mô tô biển số 66L1 – 169.18 và xe ô tô tải biển số 83C – 094.90 cho các chủ sở hữu theo quy định.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp đã xét xử:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 08 (T3) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và nêu quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, đến ngày 12/9/2024 bị cáo Trần Văn T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Văn T thừa nhận hành vi vi phạm như nội dung bản án sơ thẩm miêu tả. Bị cáo thừa nhận Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng. Tuy nhiên, bị cáo cho rằng mức hình phạt 08 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là nặng, nên bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo vì hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, con của bị cáo còn nhỏ.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm nhận định hành vi của bị cáo Trần Văn T bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã có xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và đã áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố, xét xử. Kiểm sát viên nhận thấy mức hình phạt 08 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Nay bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, có nêu ra các tình tiết giảm nhẹ là hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ, nhưng các tình tiết giảm nhẹ này đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét. Vì vậy, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo T.

Tại phần tranh luận, bị cáo Trần Văn T không tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo để bị cáo có điều kiện tại ngoại chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

  1. Khoảng 05 giờ 40 phút, ngày 11/12/2023, bị cáo Trần Văn T (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô tải biển số 83C – 094.90 chạy trên đường T, hướng đi từ thành phố S đến Quốc lộ E. Khi đến trước chợ G thuộc ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp - nơi có đường giao nhau, bị cáo T không giảm tốc độ nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 66L1-169.18 do bị hại Trương Công K điều khiển chạy từ đường nhánh ra đường T chuyển hướng sang bên trái hướng đi xe của bị cáo T. Hậu quả làm ông K tử vong. Quá trình điều tra thể hiện tốc độ xe ô tô tải do bị cáo điều khiển tại thời điểm xảy ra tai nạn là từ 63,6km/giờ đến 64,9km/giờ, quá tốc độ quy định khi vào khu vực đông dân cư và bị cáo không giảm tốc độ để bảo đảm an toàn mặc dù bị cáo đã thấy trước hướng xe di chuyển của bị hại có thể gây nguy hiểm. Hành vi của bị cáo T đã vi phạm quy định của pháp luật về tham gia giao thông đường bộ, gây ra hậu quả chết người, hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo T theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ pháp luật.
  2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, có xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ do bị cáo “ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “bị cáo đã khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại”, “bị cáo là lao động chính trong gia đình, có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo” theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo mức hình phạt tù thấp hơn mức thấp nhất của khung hình phạt tù mà bị cáo vi phạm. Xét thấy, hình phạt đã áp dụng là có chiếu cố đối với bị cáo và phù hợp với pháp luật.
  3. Bị cáo Trần Văn T kháng cáo xin được hưởng án treo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy lý do kháng cáo của bị cáo đã được Toà án cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng và thấy rằng bị cáo phạm tội với lỗi vô ý nhưng thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng; đồng thời, tình trạng vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong phạm vi cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp nói riêng là rất đáng báo động, nên mọi hành vi vi phạm cần phải được xử lý nghiêm minh mới bảo đảm ổn định trật tự an toàn giao thông, góp phần răn đe và phòng ngừa chung.
  4. Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Văn T, nên giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
  5. Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ chấp nhận.
  6. Do kháng cáo của bị cáo Trần Văn T không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
  7. Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Văn T.

    Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Văn T.

  2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Xử phạt bị cáo Trần Văn T 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

  3. Về án phí:

    Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/02/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC- Vụ GĐKT 1;
  • - Ban Nội chính Tỉnh ủy ĐT;
  • - Sở Tư pháp ĐT;
  • - VKSND tỉnh ĐT;
  • - Cơ quan THAHS Công an ĐT;
  • - TAND H. Lai Vung (02 bản);
  • - VKSND H. Lai Vung;
  • - THADS H.Lai Vung;
  • - CQCSĐT Công an H. Lai Vung, ĐT;
  • - Bị cáo;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an ĐT;
  • - Phòng KTNV- THA Tòa án ĐT;
  • - Lưu: VT, HSVA (Loan).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-PT ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (phúc thẩm hình sự)

  • Số bản án: 20/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Phúc thẩm Hình sự)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger