Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 06-02-2025

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình:

Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Trí Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thiện Pháp và bà Phan Mỹ Trang.

– Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Quang Trực – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 467/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 214/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Ánh X, sinh năm 1978; Địa chỉ: Khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang;

- Bị đơn: Anh Đoàn Bình T, sinh năm 1978; Địa chỉ: Khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang;

Tại phiên tòa, chị Trương Thị Ánh X có mặt, anh Đoàn Bình T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Trương Thị Ánh X trình bày: Chị và anh Đoàn Bình T do tự tìm hiểu rồi chung sống với nhau từ năm 2018, có tổ chức đám cưới và có đăng ký hết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P vào ngày 29/12/1998. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có với nhau hai con chung tên Đoàn Bình Q, sinh ngày 06/11/2008, Đoàn Yến N, sinh ngày 04/11/2001. Tuy nhiên đến cuối năm 2022, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là tính tình không hợp nhau, anh T thường xuyên đánh chị. Mặc dù, chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng đến nay anh T vẫn không thay đổi. Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu như sau:

Về hôn nhân:

Chị Trương Thị Ánh X yêu cầu được ly hôn anh Đoàn Bình T;

Về con chung:

Có hai con chung tên Đoàn Bình Q, sinh ngày 06/11/2008, Đoàn Yến N, sinh ngày 04/11/2001 đã trưởng thành. Khi ly hôn chị Trương Thị Ánh X yêu cầu được nuôi cháu Đoàn Bình Q và không yêu cầu anh Đoàn Bình T cấp dưỡng.

Về tài sản chung:

Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết;

Về nợ chung:

Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Theo Tờ tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Đoàn Bình T trình bày:

Về quá trình hôn nhân anh thống nhất với trình bày của chị Trương Thị Ánh X. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Ánh X thì anh có ý kiến như sau:

Về hôn nhân:

Anh Đoàn Bình T không đồng ý ly hôn chị Trương Thị Ánh X vì còn thương vợ con;

Về con chung:

Có hai con chung tên Đoàn Bình Q, sinh ngày 06/11/2008, Đoàn Yến N, sinh ngày 04/11/2001 đã trưởng thành. Trường hợp phải ly hôn anh Đoàn Bình T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Đoàn Bình Q; không yêu cầu chị Trương Thị Ánh X cấp dưỡng.

Về tài sản chung:

Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết;

Về nợ chung:

Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Trương Thị Ánh X trình bày: Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Đoàn Bình T; yêu cầu được nuôi cháu Đoàn Bình Q và không yêu cầu anh Đoàn Bình T cấp dưỡng; về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Đoàn Bình T vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu quan điểm:

Về tố tụng:

Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.

Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Ánh X

Về hôn nhân:

Chị Trương Thị Ánh X được ly hôn với anh Đoàn Bình T.

Về con chung:

Giao con chung tên Đoàn Bình Q, sinh ngày 06/11/2008 cho chị Trương Thị Ánh X trực tiếp nuôi, anh Đoàn Bình T không cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, nợ chung:

Do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

Về chi phí tố tụng và án phí:

Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Chị Trương Thị Ánh X và anh Đoàn Bình T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21 do Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang cấp ngày 29/12/1998). Anh Đoàn Bình T có địa chỉ thường trú tại: Khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Chị Trương Thị Ánh X khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Đoàn Bình T; yêu cầu được nuôi con chung là Đoàn Bình Q, sinh ngày 06/11/2008 nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về việc có mặt, vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, chị Trương Thị Ánh X có mặt, anh Đoàn Bình T vắng mặt lần thứ hai không lý do nên căn cứ Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Xét việc tranh chấp:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Trương Thị Ánh X và anh Đoàn Bình T xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 29/12/1998 tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Chị Trương Thị Ánh X cho rằng mâu thuẫn vợ chồng xuất phát từ việc vợ chồng không còn hợp nhau, anh Đoàn Bình T thường xuyên đánh chị. Mặc dù, chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng đến nay anh T vẫn không thay đổi. Quá trình giải quyết vụ án, anh T thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn nhưng không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ.

Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị Trương Thị Ánh X và anh Đoàn Bình T xuất phát từ việc vợ chồng không còn tình cảm với nhau, anh T đã được tòa án triệu tập hai lần để tham dự phiên tòa nhưng anh T vẫn vắng mặt không lý do cho thấy anh T không có thiện chí hàn gắn và chị X cương quyết ly hôn cho thấy hôn nhân giữa anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng.

Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Trương Thị Ánh X được ly hôn với anh Đoàn Bình T.

[2.2] Về con chung:

Chị Trương Thị Ánh X và anh Đoàn Bình T thống nhất có hai con chung là Đoàn Bình Q, sinh ngày 06/11/2008, Đoàn Yến N, sinh ngày 04/11/2001 đã trưởng thành, hiện tại cháu Q đang sống ổn định cùng chị X, quá trình giải quyết vụ án cháu Q cũng có nguyện vọng tiếp tục sống cùng chị X. Xét thấy, việc giao cháu Q cho chị X tiếp tục nuôi dưỡng là cần thiết để không làm ảnh hưởng cuộc sống của cháu.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị Ánh X giao cháu Đoàn Bình Q cho chị Trương Thị Ánh X tiếp tục nuôi dưỡng.

[2.3] Về cấp dưỡng cho con: Tòa án đã giải thích về nghĩa vụ cấp dưỡng đối với người không trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nhưng chị Trương Thị Ánh X vẫn không yều cầu và anh Đoàn Bình T cũng không cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về tài sản chung: Chị Trương Thị Ánh X và anh Đoàn Bình T thống nhất không có tài sản chung, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.5] Về nợ chung: Chị Trương Thị Ánh X và anh Đoàn Bình T thống nhất không có nợ chung, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Như các phân tích nêu trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.

[4] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Ánh X.

1. Về hôn nhân:

Chị Trương Thị Ánh X được ly hôn với anh Đoàn Bình T.

2. Về con chung:

Giao cháu Đoàn Bình Q, sinh ngày 06/11/2008 cho chị Trương Thị Ánh X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Đoàn Bình T không cấp dưỡng cho con.

Anh Đoàn Bình T và các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của chị Trương Thị Ánh X. Chị Trương Thị Ánh X và các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh Đoàn Bình T trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về quan hệ tài sản:

Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí:

Chị Trương Thị Ánh X phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0021461 ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn. Chị Trương Thị Anh X đã nộp đủ. Anh Đoàn Bình T không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn (1);
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn (1);
  • - Uỷ ban nhân dân thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn (1);
  • - Các đương sự (2);
  • - Lưu văn phòng (1);
  • - Lưu hồ sơ (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Trí Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình: ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Trương Thị Ánh Xuân được ly hôn với anh Đoàn Bình Trọng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger