Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY NAM

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 04-02-2025.

V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Kim Sang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Văn Hiền
  • 2. Ông Ngô Bá Đức

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Nhật Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 557/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1975; Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre, có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 15/01/2025.

2. Bị đơn: Ông Lê Văn P, sinh năm 1972; Địa chỉ: Ấp H, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre, vắng mặt không lý do lần thứ 2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/12/2024, bản tự khai và các lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Trên cơ sở tự tìm hiểu, quen biết nhau trước, bà và ông Lê Văn P tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre, vào ngày 11/12/1996. Sau khi kết hôn, thời gian đầu ông bà sống hạnh phúc. Đến khoảng tháng 01/2024, ông bà phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được điểm chung trong lối sống nên hai bên đã ly thân từ đó cho đến nay. Trong thời gian ly thân, ông bà đã cố gắng tạo điều kiện cho nhau nhiều cơ hội để hàn gắn đoàn tụ nhưng không có kết quả. Gia đình hai bên cũng đã khuyên bảo, tạo điều kiện cho bà và ông P có thời gian trao đổi, tìm lý do mâu thuẫn để giải quyết. Tuy nhiên, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể nào thay đổi được. Vì vậy, nay bà yêu cầu được ly hôn với ông P do không còn tình cảm, không ai còn quan tâm ai.

Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống, ông bà có 03 con chung tên Lê Thị Diễm H, sinh ngày 12/11/1992; Lê Thị Diễm M, sinh ngày 02/4/1995 và Lê Tuấn K, sinh ngày 09/3/2007. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi cháu K và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Hiện cháu H và cháu M đã trưởng thành nên không đề cập.

Về chia tài sản: Trong thời gian chung sống, ông bà không có tài sản chung và không có nợ ai.

Bị đơn ông Lê Văn P vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến trình bày của ông P.

Tại Biên bản lấy ý kiến đề ngày 30/12/2024, cháu Lê Tuấn K trình bày như sau:

Nếu cha và mẹ cháu ly hôn với nhau, cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ.

Tại Biên bản xác minh đề ngày 30/12/2024, ông Phạm Minh V – Công chức Tư pháp xã T trình bày như sau:

Bà Nguyễn Thị L có cư trú tại ấp A, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Trong thời gian sinh sống tại ấp A, xã T, bà Nguyễn Thị L và ông Lê Văn P không có yêu cầu địa phương giải quyết các vấn đề phát sinh trong cuộc sống hôn nhân nên địa phương không nắm rõ nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn dẫn đến việc ly hôn của bà L, ông P.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

  • - Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký là đảm bảo đúng pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đảm bảo đúng quy định pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị L. Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Lê Văn P; Về nuôi con chung: Sau khi ly hôn, bà L được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Lê Tuấn K, sinh ngày 09/3/2007 và ông P không phải cấp dưỡng nuôi cháu K do bà L không có yêu cầu. Con chung tên Lê Thị Diễm H, sinh ngày 12/11/1992 và Lê Thị Diễm M, sinh ngày 02/4/1995 đã trưởng thành nên không đề cập; Về tài sản chung: Không có nên không xem xét giải quyết; Về nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết; Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà L phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam nhận định:

  1. [1] Về tố tụng: Đối với nguyên đơn bà Nguyễn Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 15/01/2025 nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà L là phù hợp. Đối với bị đơn ông Lê Văn P mặc dù đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do lần thứ hai nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông P là phù hợp.
  2. [2] Về hôn nhân: Hôn nhân của bà Nguyễn Thị L và ông Lê Văn P là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, thời gian đầu ông bà sống hạnh phúc. Đến khoảng tháng 01/2024, ông bà phát sinh mâu thuẫn. Theo bà L trình bày thì nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được điểm chung trong lối sống nên hai bên đã ly thân từ đó cho đến nay. Trong thời gian ly thân, ông bà đã cố gắng tạo điều kiện cho nhau nhiều cơ hội để hàn gắn đoàn tụ nhưng không có kết quả. Gia đình hai bên cũng đã khuyên bảo, tạo điều kiện cho bà và ông P có thời gian trao đổi, tìm lý do mâu thuẫn để giải quyết. Tuy nhiên, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể nào thay đổi được. Vì vậy, nay bà yêu cầu được ly hôn với ông P do không còn tình cảm, không ai còn quan tâm ai. Ông P vắng mặt trong suốt quá trình Tòa giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nên không có lời trình bày.

    Xét thấy, sau khi kết hôn bà L và ông P đã có thời gian dài sống hạnh phúc và có với nhau ba con chung nhưng chỉ vì những mâu thuẫn trong cuộc sống mà ông bà sống bỏ mặc, không quan tâm nhau, mỗi người có một cuộc sống riêng. Ngoài ra, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo cho ông P đến Tòa để tham gia hòa giải nhằm tạo điều kiện cho ông bà hàn gắn nhưng ông P vẫn vắng mặt không lý do chứng minh ông không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ. Nay bà L cương quyết được ly hôn với ông P do không còn tình cảm. Điều đó chứng tỏ rằng cuộc sống hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L là phù hợp.

  3. [3] Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống, ông bà có 03 con chung tên Lê Thị Diễm H, sinh ngày 12/11/1992; Lê Thị Diễm M, sinh ngày 02/4/1995 và Lê Tuấn K, sinh ngày 09/3/2007. Hiện cháu H và cháu M đã trưởng thành nên không đề cập. Sau khi ly hôn, bà L yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi cháu K và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Ông P đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án tuy nhiên ông không có ý kiến hay yêu cầu, tranh chấp gì. Tại biên bản lấy ý kiến đề ngày 30/12/2024, cháu K có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ. Xét thấy, cháu K hiện đang sống với bà L và bà L có đủ điều kiện đảm bảo trực tiếp nuôi con nên nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định về thể chất, tinh thần và tâm sinh lý của cháu K cần giao cháu K cho bà L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật và nguyện vọng của cháu K. Đối với yêu cầu cấp dưỡng, bà L không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi cháu K là tự nguyện nên ghi nhận.
  4. [4] Về chia tài sản: Theo bà L trình bày là trong thời gian chung sống ông bà không có tài sản chung và không có nợ ai, ông P đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án tuy nhiên ông không có ý kiến hay yêu cầu, tranh chấp gì. Do đó, không có căn cứ để xác định ông bà có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
  5. [5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  6. [6] Xét về quan điểm giải quyết vụ án của vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày N là phù hợp hoàn toàn với nhận định của Tòa nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị L.

    Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Lê Văn P.

  2. Về nuôi con chung: Sau khi ly hôn, bà Nguyễn Thị L được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Lê Tuấn K, sinh ngày 09/3/2007 và ông Lê Văn P không phải cấp dưỡng nuôi cháu K do bà L không có yêu cầu. Hai con chung tên Lê Thị Diễm H, sinh ngày 12/11/1992 và Lê Thị Diễm M, sinh ngày 02/4/1995 đã trưởng thành nên không đề cập.

    Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về chia tài sản: Trong thời gian chung sống, ông bà không có tài sản chung và không có nợ ai nên không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà L đã nộp theo biên lai thu số 0005018 ngày 11/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam nên không phải nộp thêm.
  5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - VKSND huyện Mỏ Cày Nam (1b);
  • - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Nam (1b);
  • - UBND xã Phước Hiệp (1224, 11/12/1996) (1b);
  • - Các đương sự (2b);
  • - Lưu: Hồ sơ, VP (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Kim Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HNGĐ - ST ngày 04/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 20/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger