Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số:20/2025/HS-ST

Ngày: 24-01-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư và bà Ngô Thị Vân

Thư ký phiên tòa: Bà Tống Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 256/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Gia L, sinh ngày 22 tháng 6 năm 1990, tại Bắc Giang.

Nơi đăng ký HKTT: Phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Chỗ ở hiện tại: Số nhà A, đường T, phường T (nay thuộc phường N), thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lái xe. Văn hóa 12/12.

Bố: Hoàng Văn T, sinh năm 1956.

Mẹ: Nguyễn Thị K, sinh năm 1961.

Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai.

Vợ, con: Không.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 03/10/2024 đến ngày 12/10/2024, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (có mặt).

- Bị hại:

  1. Anh Lò Văn Việt Q, sinh ngày 09/01/2006 (đã chết)
  2. Địa chỉ: Bản C, xã N, huyện S, tỉnh Sơn La.

    Đại diện hợp pháp:

    • + Ông Lò Văn D, sinh năm 1985 (vắng mặt)
    • + Bà Lò Thị M, sinh năm 1988 (vắng mặt)

    Đều địa chỉ: Bản C, xã N, huyện S, tỉnh Sơn La.

    (Bà M ủy quyền cho ông D tham gia tố tụng trong vụ án)

  3. Chị Cà Thị D1, sinh ngày 12/5/2007
  4. Đại diện hợp pháp:

    • + Ông Cà Văn P, sinh năm 1972 (vắng mặt)
    • + Bà Lường Thị T1, sinh năm 1972 (vắng mặt)

    Đều địa chỉ: Bản C, xã H, huyện S, tỉnh Sơn La.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1956 (có mặt)
  2. Địa chỉ: Số nhà 04, ngách 8, ngõ 338, đường Xương Giang, tổ dân phố số 07, phường Ngô Quyền, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

  3. Anh Hoàng L1, sinh năm 1985 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Số nhà A, đường T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

  5. Ông Lò Văn D, sinh năm 1985 (vắng mặt)
  6. Bà Lò Thị M, sinh năm 1988 (vắng mặt)
  7. Đều địa chỉ: Bản C, xã N, huyện S, tỉnh Sơn La.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Đức N, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà D, ngõ B, đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã H, huyện S, tỉnh Sơn La (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Gia L, sinh năm 1990, trú tại số nhà A, đường T, phường T, thành phố B sở hữu chiếc xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI XL7 biển kiểm soát 98A-551.76 và có giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 25/3/2021.

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 03/10/2024, L điều khiển xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI XL7 biển kiểm soát 98A-551.76 chở khách đến quán K2 ở số nhà E, đường T, phường T, thành phố B. Sau đó, L bật đèn tín hiệu xi nhan bên trái rồi điều khiển xe ô tô chuyển hướng sang làn đường bên trái để quay đầu xe đi về nhà. Lúc này, anh Lò Văn Việt Q, sinh ngày 09/01/2006, trú tại Bản Chu V (nay là Bản C), xã N, huyện S, tỉnh Sơn La điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter biển kiểm soát 26B2-014.78 chở chị Cà Thị D1, sinh ngày 12/5/2007, trú tại Bản C, xã H, huyện S, tỉnh Sơn La đi trên đường T theo hướng từ ngã tư đường T và đường T đến cầu B với tốc độ cao. Trước đó, anh Q đã uống bia, rượu với một số bạn bè. Lai nhìn qua gương chiếu hậu bên trái thấy xe mô tô do anh Q điều khiển đi phía sau xe ô tô của L khoảng 100 mét. Do chủ quan cho rằng đủ khoảng cách an toàn nên L tiếp tục điều khiển xe ô tô chuyển hướng. Khi xe ô tô do L điều khiển đi đến vị trí giữa đường đã va chạm với xe mô tô do anh Q điều khiển. Phần đầu xe bên trái của xe ô tô do L điều khiển va chạm với xe mô tô do anh Q điều khiển. Hậu quả làm anh Q, chị D1 bị ngã xuống đường. L xuống xe cùng người dân gọi xe đưa anh Q, chị D1 đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B để cấp cứu. Tuy nhiên, anh Q đã bị chết trên đường đưa đi cấp cứu còn chị D1 bị thương nhẹ. Tại Công an thành phố B, L đầu thú va khai nhận diễn biến sự việc như trên. Kết quả kiểm tra đối với Hoàng Gia L không có nồng độ cồn và âm tính với ma túy.

Khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường xảy ra vụ việc tại đường T đoạn trước số nhà E, phường T, thành phố B. Phía Bắc là vỉa hè, số nhà E. Phía Nam là vỉa hè, số nhà B. Phía Đ là hướng đường đi ngã 4 T - T. Phía Tây là hướng đường đi cầu B. Đoạn đường là đường 2 chiều bề mặt trải nhựa đường, tương đối bằng phẳng. Đường rộng 15.1 mét, hai chiều đường được phân biệt bằng vạch kẻ đường nét đứt màu vàng ở giữa.

Tại thời điểm khám nghiệm, hệ thống đèn đường chiếu sáng hoạt động bình thường. Chọn tụ điện T4I/CNS trên vỉa hè trước số nhà E (góc Tây Nam của trụ tụ điện) làm mốc cố định, mép N đường Trần Quang K1 làm mép chuẩn đo đạc.

Vị trí số (1) là xe ô tô, nhãn hiệu SUZUKI XL 7, màu sơn trắng, biển số 98A-551.76 dừng đỗ trên mặt đường, đầu xe quay hướng T, đuôi xe quay hướng Đông Bắc. T2 trục bánh sau bên trái cách mốc 7.85 mét, cách mép chuẩn 8 mét. T2 trục bánh trước bên trái cách mép chuẩn 5.95 mét. Tại vị trí mặt ngoài ốp kim loại bên trái đầu xe ô tô phát hiện đám dấu vết chất màu nâu đỏ, nghi máu.

Vị trí số (2) là xe máy, nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn đen, biển số 26B2-014.78 đổ nghiêng phải trên mặt đường vỉa hè, đầu xe quay hướng Đ, đuôi xe quay hướng Tây. T2 trục bánh trước xe máy cách mép chuẩn 0,33 mét, cách tâm trục bánh trước bên trái xe ô tô là 6.12 mét. T2 trục bánh sau xe máy cách mép chuẩn 0.15 mét.

Vị trí số (3) là dãy dấu vết chất lỏng dạng dầu nhỏ giọt bắn trên mặt đường chiều hướng từ Đ - Tây Nam trên diện (7 x 0.35) mét. Điểm đầu vết cách mép chuẩn 7.3 mét, cách tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô 0.7 mét. Điểm cuối cách mép chuẩn 0.2 mét, cách tâm trục bánh trước xe máy là 0.35 mét.

Vị trí số (4) là đám, dãy dấu vết chất màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt bắn vũng đọng trên mặt đường, chiều hướng Đông Bắc - Tây Nam trên diện (6.8 x 0.7) mét. Đầu vết cách mép chuẩn 6.4 mét, cách tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô là 1.6 mét. Điểm cuối vết cách mép chuẩn 0.6 mét, cách tâm trục bánh trước xe máy là 1.4 mét. Điểm đầu vết vị trí số (4) cách điểm đầu vết vị trí số (3) là 1,06 mét.

Vị trí số (5) là vết mài trượt mặt đường chiều hướng Đông Bắc - T, kích thước (0.4 x 0.15) mét, điểm đầu vết cách mép chuẩn 6.3 mét, cách tâm trục bánh trước trái xe ô tô là 0.47 mét. Điểm cuối vết trùng vị trí bánh lốp trước bên trái xe ô tô.

Vị trí số (6) là hệ thống dấu vết cày xước mặt đường chiều hướng Đông Bắc - T trên diện (5.1 x 0.8) mét. Điểm đầu vết cách tâm chục bánh trước trái xe ô tô là 1.8 mét, cách mép chuẩn là 4.13 mét. Điểm cuối vết kết thúc tại để chân trước bên phải xe máy. Điểm đầu vết vị trí số (6) cách điểm đầu vết vị trí số (4) là 2.67 mét.

Vị trí số (7) là đám mảnh vỡ nhựa, mảnh vỡ các chi tiết bộ phận xe ô tô và xe máy trên diện (10 x 7.3) mét. T2 diện cách mép chuẩn 3.2 mét, cách tâm trục bánh sau xe máy là 3.4 mét về phía T. Tại vị trí đuôi xe máy phát hiện 01 đôi dép nhựa màu trắng, 01 chiếc dép nhựa màu đen bên phải; 01 mũ bảo hiểm loại mũ bảo hiểm lưỡi chai màu đen trắng đã nứt vỡ.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra đã tạm giữ xe mô tô biển số 26B2-014.78; xe ô tô 98A-551.76 và dấu vết nghi máu tại mặt ngoài ốp kim loại bên trái đầu xe ô tô. (bút lục 177-179; 183-195)

Kết quả khám nghiệm tử thi Lò Văn Việt Q:

Vùng đầu: Hai lỗ tai, hai lỗ mũi có máu chảy từ trong ra lần máu khô. Vùng trán phải có diện xây sát da, kích thước (3x1,5)cm. Chính giữa vùng trán có vêt rách da nằm dọc, bờ mép không gọn, còn cầu tổ chức, kích thước (7x0,5)cm. Vùng cằm và cổ trước có diện xây sắt, rách da, kích thước (14x6)cm.

Vùng ngực: Hai bên có diện xây sát da kích thước (25x12)cm. Vùng ngực phải cách núm vú 1,5 cm có vết rách da bờ mép không gọn, sâu sát sương, kích thước (8x5)cm. Mặt sau ngoài cánh tay, khuỷu tay, cẳng tay phải có diện xây sát, bầm tím da, kích thước (32x9)cm. Mặt mu ngón 4,5 bàn tay phải có diện dập, rách da để lộ xương, kích thước (4x3)cm. Gãy hở phức tạp đốt 1 ngón 4, 5 bàn tay phải. Mặt ngoài 1/3 trên cánh tay trái có vết xây sát da kích thước (5x1,5)cm. Mặt mu bàn ngón tay trái có diện xây sát da, kích thước (7x6)cm. Mặt trước gối phải có diện xây sát da, kích thước (5x4)cm. Sưng nề biến dạng cắng chân phải. Gãy kín 1/3 dưới hai xương cẳng chân phải. Mu bàn chân phải có diện sưng nề, xây sát, bầm tím da, kích thước (12x7,5)cm. Gối, cẵng chân trái có nhiều vết xây sát, bầm tím da trên diện (25x12)cm.

Vùng bụng có diện xây sát da kích thước (8x6,5) cm. Vùng sườn phải có diện xây sát, bâm tím da, kích thước (9x6,5)cm. Sờ nắn thấy gãy cung trước xương sườn 4, 5, 6 bên phải, khung bên sườn 7, 8,9 bên phải.

Mổ tử thi: Chọc hút bằng bơm kim tiêm khoang lồng ngực hai bên thấy có máu không đông lẫn dịch bọt. Chọc hút qua động mạch chủ thu mẫu máu tử thi. (bút lục 196-213)

Khám nghiệm xe ô tô biển số 98A-551.76:

Nắp capo trước bên trái bị cong vênh bẹp móp kim loại, hướng từ trái sang phải, từ sau ra trước, bề mặt có bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu và tổ chức mô cơ thể. Góc trái phía bên nắp capo trước có vết mài kim loại, mất sơn kim loại, trên diện (155 x 99) cm. Điểm thấp nhất cách đất 87, 5 cm.

Ba đờ sốc trước bên trái bị bật dời khỏi vị trí cố định, bề mặt có vết mài sát nhựa, rách thủng nhựa, trên diện (50 x 33) cm. Mặt ca lăng trước bên trái bị bật chốt cố định, cong vênh hướng từ sau ra trước.

Tai xe bên trái bị cong chùn, bẹp móp, biến dạng kim loại hướng từ sau ra trước, từ trái sang phải, bề mặt có nhiều vết mài sát sơn kim loại, bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu và tổ chức mô cơ thể, kích thước (80 x 95) cm. Điểm thấp nhất cách đất 20 cm.

Bánh trước bên trái bị cong vênh, hướng từ phải sang trái, từ sau ra trước. Mặt ngoài má lốp bánh trước bên trái, tại vị trí điểm gần nhất cách chân van 25 cm, ngược chiều kim đồng hồ có vết mài cao su, sạch bụi trên diện (27 x 4,5) cm.

Mặt ngoài la răng bánh trước bên trái có nhiều vết mài khuyết kim loại, bề mặt bám dính chất màu nâu đỏ nghi sơn, màu đen nghi cao su, kích thước (35 x 26) cm. Ốp nhựa chắn bùn bánh trước bên trái bị rách thủng nhựa, bật chốt cố định, bề mặt bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu, kích thước (60 x 15) cm.

Sắt si cạnh trái đầu xe, tại vị trí thấp nhất cách đất 57 cm bị cong vênh kim loại hướng từ sau ra trước, bề mặt mài sát kim loại sạch bụi, trên diện (17 x 7) cm. (bút lục 236-252)

Khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 26B2-014.78:

Ốp nhựa đầu xe bị dập vỡ, rách, thủng nhựa, bề mặt nhiều vết mài sát nhựa, bám dính bụi đất, bật chốt cố định, trên diện (36 x 20) cm. Điểm thấp nhất cách đất là 97 cm.

Mặt nạ đầu xe bị dập vỡ gãy khuyết nhựa, bề mặt có vết mài sát nhựa, rách nhựa, trên diện (41 x 36) cm. Điểm thấp nhất cách đất 65 cm. Cụm đèn pha trước bật dời khỏi vị trí cố định, mặt kính cụm đèn có vết màu sước nhựa, dập vỡ nhựa bám dính bụi đất, kích thước (18 x 15) cm.

Cụm đèn xi nhan trước bên phải dập vỡ gãy nhựa, kích thước (23 x 4) cm. Đèn xi nhan trước bên trái có vết dập vỡ mài sát kính nhựa, bám dính chất màu đen, màu đỏ nghi sơn, kích thước (23 x 4) cm.

Càng bánh trước trái bị cong chùn hướng từ trước về sau, từ trái sang phải. Mặt ngoài càng giảm sóc bánh trước bên trái có vết mài sát kim loại, kích thước (15,5 x 3) cm. Điểm thấp nhất cách đất 33 cm.

Mặt trước càng giảm sóc trước bên phải, tại vị trí thấp nhất cách đất 51 cm có vết mài kim loại bám dính chất màu đen nghi sơn, kích thước (12,5 x 2) cm. Chắn bùn bánh trước bị bật chốt cố định, ½ chắn bùn trước dập vỡ gãy khuyết một phần nhựa, bề mặt mài xước nhựa, kích thước (30 x 25) cm.

½ chắn bùn sau bánh trước có vết rách nhựa, thủng nhựa, màu sát nhựa trên diện (18 x 9) cm. Vành bánh trước bên trái có vết mài khuyết kim loại, cong chùn kim loại, bề mặt bám dính chất màu đen, vàng, trắng, kích thước (4 x 1,5) cm. T2 vết đối diện chân van.

Moay ơ bánh trước bên phải cong vênh hướng từ trước về sau, từ trái sang phải, bề mặt có vết mài kim loại bám dính chất màu đen dạng cao su, kích thước (21 x 6) cm. Điểm thấp nhất cách đất 19 cm.

Nan hoa bánh trước bên phải bị gãy 4 nan hoa. Két nước mặt ngoài bên phải bánh trước có vết mài kim loại sạch bụi, bề mặt bám dính chất màu đen, kích thước (11 x 10,5) cm. Điểm thấp nhất cách đất là 53 cm.

Cánh yếm phải, cánh yếm trái bị gãy khuyết. T1 kim loại phía trước lốc máy bên phải bị cong gập hướng từ trước về sau, ép sát vào lốc máy.

Đường dẫn ống xả tại vị trí phía trước lốc máy bên phải bẹp móp kim loại, bề mặt mài sát kim loại, bám dính chất màu đen, kích thước (10 x 2) cm.

Mặt ngoài lốc máy bên phải có vết mài gãy kim loại, mài mất sơn kim loại, kích thước (12 x 3) cm. Điểm thấp nhất cách đất 26, 5 cm. Chân phanh bên phải bị cong chùn hướng từ trước về sau, từ trái sang phải, ép sát vào lốc máy.

Đầu ngoài để chân phanh có vết mài kim loại, bám dính chất màu trắng, màu xanh nghi sơn, kích thước (4,5 x 1) cm. Điểm thấp nhất cách đất 36,5 cm.

Mặt ngoài ốp nhựa sườn xe bên phải có vết mài sước nhựa, bám dính bụi đất, kích thước (15 x 2) cm. Mặt ngoài ốp kim loại bảo vệ ống xả bên phải có vết mài kim loại bám dính bụi đất, kích thước (20 x 10) cm.

Mặt ngoài ốp kim loại phía trên lốc máy bên phải tại vị trí thấp nhất cách đất 47 cm, cách tâm trục bánh trước là 34 cm, có vết mài kim loại, bám dính chất màu đen, màu đỏ, kích thước (5 x 4) cm. (bút lục 214-235)

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định để xác định nguyên nhân chết và giám định nồng độ cồn, ma túy trong máu của anh Lò Văn V1 Quỹnh.

Bản kết luận giám định tử thi số 2153/KLGĐTT-KTHS ngày 09/10/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của anh Lò Văn V1 Quỹnh là do đa chấn thương: Chấn ngực kín, gãy hai xương cẳng chân phải (bút lục 65-66)

Bản kết luận giám định số 7634 ngày 10/10/2024 của V2 Bộ C kết luận: Trong mẫu máu ghi thu của tử thi Lò Văn V1 Quỹnh gửi giám định có tìm thấy ethanol (cồn); nồng độ ethanol: 116mg/100ml máu. (bút lục 72).

Bản kết luận giám định số 7641 ngày 21/10/2024 của V2 Bộ C kết luận: Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong mẫu máu ghi thu của tử thi Lò Văn V1 Quỹnh gửi giám định. (bút lục 79).

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định ADN dấu vết nghi máu thu tại mặt ngoài ốp kim loại bên trái đầu xe ô tô 98A-551.76 và trưng cầu giám định cơ chế hình thành dấu vết trong vụ tai nạn giao thông

Bản kết luận giám định số 7665/KL-KTHS ngày 04 tháng 11 năm 2024 của V2 Bộ C kết luận: Mẫu gửi giám định có chứa ADN của Lò Văn V1 Quỹnh. (bút lục 87-88)

Bản kết luận giám định số 2433/KL-KTHS ngày 15/11/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận:

Dấu vết mài sát cao su, kim loại, bám dính chất màu đen tại má lốp và la zăng bánh trước bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 98A-551.76, có chiều hướng từ trái sang phải (ảnh số 23, 25, 26, 27, 28 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết chùn cong, mài sát cao su, kim loại, bám dính chất màu đen tại bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 26B2-014.78 gồm: lốp và vành bánh trước, đĩa phanh bánh trước, két nước, ống xả, vỏ máy, chân phanh, có hướng từ trước ra sau, từ ngoài vào tâm bánh (ảnh số 28, 30, 40, 46, 49 bản ảnh khám phương tiện).

Dấu vết chùn cong, mài sát sơn, nhựa, kim loại, bám dính chất màu đen - đỏ tại ốp kim loại bên trái đầu xe, ốp chắn bùn bánh trước bên trái của ô tô biển kiểm soát 98A-551.76, có chiều hướng từ trái sang phải (ảnh số 15, 30, 31 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết gãy vỡ, mài sát sơn, nhựa, bám dính chất màu trắng tại mặt nạ, cụm đèn xi nhan trước hai bên, chắn bùn bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 26B2-014.78, có hướng từ trước ra sau (ảnh số 5, 6, 16, 17, 24 bản ảnh khám phương tiện).

Dấu vết chất màu đen dạng phun bắn trên hiện trường ký hiệu số 3 phù hợp với quá trình sau khi va chạm, vỏ máy của xe mô tô biển kiểm soát 26B2 014.78 gãy vỡ, dầu máy bên trong rơi, bắn trên mặt đường tạo nên.

Dấu vết mài trượt ký hiệu số 5 phù hợp với quá trình lốp bánh trước bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 98A-551.76 rê trượt trên mặt đường tạo nên.

Hệ thống dấu vết cày xước ký hiệu số 6 phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 26B2-014.78 đổ nghiêng phải, văng rê trên mặt đường tạo nên.

Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 98A-551.76 với xe mô tô biển kiểm soát 26B2-014.78 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết chất màu đen dạng phun bắn ký hiệu số 3 và dấu vết mài trượt ký hiệu số 5, ở khu vực giữa đường, không xác định được thuộc chiều chuyển động bên phải hay bên trái theo hướng ngã tư T - T đi cầu B.

Chiều hướng va chạm: Tại thời điểm xảy ra tai nạn xe mô tô biển kiểm soát 26B2-014.78 chuyển động theo hướng ngã tư T - T đi cầu B va chạm với xe ô tô biển kiểm soát 98A 551.76 ở phía trước, đầu xe hướng sang bên trái (tính theo chiều chuyển động của xe mô tô biển kiểm soát 26B2-014.78).

Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học. (bút lục 94-95)

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định dữ liệu hình ảnh được trích xuất, thu giữ tại camera hành trình trên xe ô tô xe ô tô nhãn hiệu MG, BKS 98A-718.61 của anh Nguyễn Đức N, sinh năm 1989, trú tại số nhà D, ngõ B, đường N, phường N, thành phố B.

Kết luận giám định số 2623/KL-KTHS ngày 11/12/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 file được lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định; Trích xuất được 14 hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong các file video gửi giám định (bút lục 104-113)

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám thương tích của chị Cà Thị D1. Bản kết luận giám định số 2815 ngày 11/12/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Cà Thị D1 tại thời điểm giám định là 13 %. (bút lục 157-158)

Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 26B2-014.78 và xe ô tô biển kiểm soát 98A-551.76 bị hư hỏng. Kết luận định giá tài sản số 308/KL-HĐ ngày 13/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

Các bộ phận bị thiệt hại, hư hỏng cần thay thế, sửa chữa và tiền công thay thế, sửa chữa của xe ô tô, nhãn hiệu SUZUKI XL7 biển kiểm soát 98A-551.76 là 55.300.000 đồng.

Các bộ phận bị thiệt hại, hư hỏng cần thay thế, sửa chữa và tiền công thay thế, sửa chữa của xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 26B2-014.78 là 11.660.000 đồng. (bút lục 169-171)

Kết quả xác minh tại Sở giao thông vận tải tỉnh B xác định Hoàng Gia L có giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 25/3/2024. Không có thông tin giấy phép lái xe mô tô của anh Lò Văn Việt Q (bút lục 53, 56).

Về trách nhiệm dân sự: Ông Hoàng Văn T là bố bị cáo L đã bồi thường cho gia đình anh Lò Văn V1 Quỹnh 180.000.000 đồng. Gia đình bị cáo L đã trả tiền viện phí là 1.658.346 đồng và bồi thường cho chị Cà Thị D1 2.000.000 đồng. Chị D1 và anh Lò Văn D (bố đẻ anh Q) là đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo (bút lục 291; 303-307).

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại anh Lò Văn D chiếc xe mô tô biển số 26B2-014.78 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 gắn sim số 0359.884.265. Trả lại bị cáo Hoàng Gia L chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98A-551.76 cùng giấy tờ xe (bút lục 36, 41). Đối với giấy phép lái xe ô tô mang tên Hoàng Gia L được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.

Đối với anh Lò Văn D sở hữu chiếc xe mô tô biển số 26B2-014.78. Kết quả điều tra xác định anh Q tự ý lấy xe mô tô của anh D đi từ nhà xuống thành phố B để làm việc. Anh D không giao xe cho anh Q nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Tại Bản cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 25 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị can Hoàng Gia L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Hoàng Gia L khai nhận diễn biến sự việc như bản Cáo trạng đã nêu thừa nhận nguyên nhân xảy ra va chạm là do lỗi hỗn hợp, trong đó bị cáo có lỗi không chú ý quan sát khi cho xe chuyển hướng. Bị cáo thấy Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điểm, điều, khoản trên là đúng người, đúng tội.

Ông Hoàng Văn T trình bày đã đứng ra bồi thường cho gia đình anh Q tổng số tiền 180.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền này.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo nhất trí, không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Hoàng Gia L từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 25/3/2021 mang tên Hoàng Gia L.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo, ông T không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Bị hại, đại diện bị hại, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, đại diện Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã H, huyện S, tỉnh Sơn La đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

Trong hồ sơ vụ án, bị hại, đại diện bị hại, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã có lời khai thể hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ, nên vắng mặt họ không gây trở ngại cho việc xét xử.

Đối với đại diện Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã H, huyện S, tỉnh Sơn La, xét thấy bị hại trong vụ án là chị Cà Thị D1 là người dưới 18 tuổi nhưng không thuộc trường hợp bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý hoặc cần sự hỗ trợ về điều kiện sống, học tập do không có môi trường gia đình lành mạnh và đã được bồi thường đầy đủ nên sự vắng mặt của đại diện Đ1 Thanh niên không gây trở ngại cho việc xét xử.

Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên.

[3] Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm tử thi và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa đủ căn cứ xác định: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 03/10/2024, bị cáo L điều khiển xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI XL7 biển kiểm soát 98A-551.76 chuyển hướng trên đường T, phường T, thành phố B va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Exciter biển kiểm soát 26B2-014.78 do anh Q điều khiển.

Bị cáo điều khiển xe ô tô chuyển hướng trên đường nhưng không chú ý quan sát, không đảm bảo về an toàn đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ được Nhà nước bảo vệ, vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, dẫn đến hậu quả làm anh Q tử vong, chị D1 bị thương tích 13%. Bị cáo thực hiện với lỗi vô ý và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nên đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo theo điểm, khoản, điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ và an toàn về tính mạng, sức khỏe của người khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự.

[4] Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội là do bị cáo điều khiển xe ô tô chuyển hướng trên đường không chú ý quan sát, không đảm bảo về an toàn. Tuy nhiên, anh Q cũng có lỗi khi điều khiển xe mô tô khi trong hơi thở có nồng độ cồn, không chú ý quan sát và không có giấy phép lái xe, vi phạm khoản 8, khoản 9 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008. Do đó, xác định lỗi dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là lỗi hỗn hợp.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại, gia đình bị hại. Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Người bị hại cũng có lỗi khi tham gia giao thông đường bộ. Bị cáo đầu thú, có bố đẻ, mẹ đẻ được tặng thưởng Bằng khen của Bộ Q1. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.

[6] Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có khả năng tự cải tạo nên đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định tại Điều 2, Điều 3 Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Do vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam, không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát theo Điều 65 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp, đã đảm bảo giáo dục, răn đe bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Ông Hoàng Văn T, anh Hoàng L1 không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền đã bồi thường. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng: 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 25/3/2021 mang tên Hoàng Gia L là của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Vấn đề khác: Anh Q tự ý lấy xe mô tô biển số 26B2-014.78 của ông Lò Văn D đi từ nhà xuống thành phố B rồi xảy ra va chạm mà không thông báo cho ông D. Do đó, Cơ quan điều tra không xử lý ông D về hành vi giao xe người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ là có căn cứ.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[11] Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 292; Điều 293; khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 8, khoản 9, Điều 8, khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ năm 2008;

Căn cứ Điều 2, Điều 3 Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Xử phạt bị cáo Hoàng Gia L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/01/2025).
  2. Giao bị cáo Hoàng Gia L cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Trả lại bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 25/3/2021 mang tên Hoàng Gia L theo Quyết định chuyển vật chứng số 10/QĐ-VKS ngày 25/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  4. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - CQCSĐT - CA TP Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - UBND phường Ngô Quyền, thành phố
  • Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt 01 năm 03 tháng từ cho hưởng án treo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger