TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HS-ST
Ngày: 22/01/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Bà Phạm Thị Ngọc;
- - Bà Nguyễn Phước Trinh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lụa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hiệp - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 01 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 319/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 07 tháng 11 năm 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: ấp L, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Đàn nhạc lễ; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị H1; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/3/2024 cho đến nay (Có mặt).
2/ Họ và tên: Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 05 tháng 8 năm 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở: ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (Đã chết) và bà Nguyễn Bích T (Đã chết); bị cáo có chồng và 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/3/2024 cho đến nay (Có mặt).
Người bị hại:
1/ Bà Nguyễn Thị E, sinh năm 1969 (Vắng mặt).
1
Địa chỉ: 6 Đường số F, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Đặng Thái N, sinh năm 1985 (Vắng mặt).
Địa chỉ: 3 L, khu phố E, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 27/3/2024, Nguyễn Thị Lan A và Nguyễn Ngọc Q rủ nhau đi cướp giật tài sản để tiêu xài. Q điều khiển xe gắn máy biển số 51Z2-8275 chở Lan A đến đường số F, ấp B, xã P, huyện C thì phát hiện bà Nguyễn Thị E đang điều khiển xe gắn máy biển số 59Y2-471.48 mang theo 01 cái bọc nylon màu đỏ đi bán vé số một mình, cả hai bàn bạc cướp giật vé số của bà E. Tuy nhiên, Lan A là phụ nữ sợ giật không thành công nên Q kêu Lan A chở Q để Q giật. Đến đoạn đường qua khỏi trụ điện số 23 thuộc ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 10 mét thì Lan A điều khiển xe chở Q chạy cùng chiều áp sát từ phía sau, Q dùng tay giật lấy túi nylon màu đỏ bao gồm 124 tờ vé số mệnh giá 10.000 đồng/1vé; 01 điện thoại di động hiệu Oppo F11 màu xanh; 1.932.000 đồng ; 01 thẻ ATM ngân hàng A1, 01 căn cước công dân, 01 thẻ bảo hiểm y tế đều mang tên Nguyễn Thị E treo trên xe gắn máy biển số 51Z-ABCD của bà E. Sau đó, tăng ga tẩu thoát về hướng ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi cướp giật tài sản Nguyễn Thị Lan A đã mang 124 tờ vé số đi bán, 01 điện thoại di động hiệu OPPO F11 màu xanh Q mang đi cầm tại cửa hàng cầm đồ - Điện thoại di động – T tại địa chỉ số G khu phố E, thị trấn C, huyện C của anh Đặng Thái N được số tiền 500.000 đồng; Số tiền 1.932.000 đồng tiền thì Q và Lan A đã tiêu xài hết.
Đến 21 giờ 00 phút cùng ngày, bà Nguyễn Thị E đến Công an xã P, huyện C trình báo sự việc.
Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 50 ngày 22/4/2024 của Ủy ban nhân dân huyện C kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Oppo F11 màu xanh có trị giá 1.000.000 đồng; 124 tờ vé số mệnh giá 10.000 đồng/tờ trị giá 1.240.000 đồng. Tổng trị giá 2.240.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo F11 màu xanh (đã trả lại cho bà Nguyễn Thị E).
- - 01 thẻ ATM ngân hàng A1; 01 thẻ căn cước công dân số [...]; 01 thẻ bảo hiểm y tế mã số 7935178149 đều mang tên Nguyễn Thị E (đã trả lại cho bà Nguyễn Thị E).
- - 01 xe gắn máy biển số 51Z-ABCD.
Về trách nhiệm dân sự:
2
Bà Nguyễn Thị E đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Ông Đặng Thái N đã được bồi thường nên không yêu cầu gì.
Tại Bản cáo trạng số 299/CT-VKS-CC ngày 06 tháng 11 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị can Nguyễn Ngọc Q và Nguyễn Thị Lan A về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như trên.
Tại phiên tòa, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Nguyễn Ngọc Q mức án từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Nguyễn Thị Lan A mức án từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Đề nghị xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe gắn máy biển số 51Z2-8275.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng:
- Bị cáo Q: Bị cáo đã biết lỗi của mình, mong được giảm nhẹ hình phạt.
- Bị cáo Lan A: Bị cáo đã biết lỗi của mình, mong quý Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt để về sớm trở về nuôi 03 con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự . Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét tại phiên tòa, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nhưng có ý kiến và yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án, xét sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung.
3
[2] Các bị cáo Nguyễn Ngọc Q và Nguyễn Thị Lan A có hành vi dùng xe gắn máy áp sát bà Nguyễn Thị E đang chạy xe gắn máy trên đường để giật 01 túi nylon màu đỏ gồm 124 tờ vé số trị giá 1.240.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Oppo F11 trị giá 1.000.000 đồng, 1.932.000 đồng, 01 thẻ ATM Ngân hàng A1, 01 căn cước công dân, 01 thẻ bảo hiểm y tế của bà Nguyễn Thị E trị giá 4.172.000 đồng là phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố các bị cáo về tội cướp giật tài sản là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác, được nhà nước bảo vệ. Hành vi của các bị cáo còn gây mất trật tự, an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của mọi người. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo nhận thức rõ rằng tài sản hợp pháp của người khác được Nhà nước bảo vệ, việc chiếm đoạt tài sản của người khác là phạm pháp, là tiếp tay cho các phần tử xấu gây nguy hại cho xã hội thế nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội chỉ vì do cần tiền nhằm thỏa mãn động cơ tư lợi riêng cá nhân bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý các bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc là cần thiết.
Đối với anh Đặng Thái N là người mua điện thoại di động từ Nguyễn Ngọc Q nhưng không biết về nguồn gốc của điện thoại nên không xử lý. Hội đồng xét xử thấy phù hợp nên không xét.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa, đồng thời bị cáo Q đã khắc phục được trách nhiệm dân sự cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bị hại có văn bản đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, do vậy Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Q; áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Lan A là phù hợp.
Xét trong vụ án này, bị cáo Q và bị cáo Lan A cùng nhau rủ rê, bàn bạc nhau để thực hiện hành vi cướp giật tài sản, sự phân hóa vai trò không rõ ràng nên lẽ ra các bị cáo cùng có mức hình phạt bằng nhau. Tuy nhiên, do phía bị cáo Q đã tích cực khắc phục hậu quả nên bị cáo Q được hưởng mức hình phạt nhẹ hơn bị cáo Lan A là phù hợp.
[5] Về vật chứng vụ án:
01 (Một) xe mô tô hiệu SKYWAY màu nâu, biển số 51Z-ABCD; số khung: 00000; số máy: 500(Tình trạng đã qua sử dụng).
4
Chiếc xe này do các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không rõ chủ sở hữu, đã truy tìm nhưng không có kết quả, do đó cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước là phù hợp.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
[6] Về nghĩa vụ chịu án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc Q, Nguyễn Thị Lan A phạm tội “Cướp giật tài sản".
- Căn cứ vào Điểm d Khoản 2 Điều 171; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Q 04 (Bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2024.
- Căn cứ vào Điểm d Khoản 2 Điều 171; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lan A 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2024.
- Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
01 (Một) xe mô tô hiệu SKYWAY màu nâu, biển số 51Z2-8275; số khung: 000004235; số máy: 50036422 (Tình trạng đã qua sử dụng).
(Lệnh nhập kho vật chứng số 1642/LNK-ĐCSHS ngày 24/10/2024 và Phiếu nhập kho vật chứng số 275/PNK-ĐCSHS ngày 24/10/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C).
- Áp dụng Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng).
Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
5
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Duy Trung |
6
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (cướp giật tài sản)
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cướp giật tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc Q, Nguyễn Thị Lan A phạm tội “Cướp giật tài sản”.
