Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/DS-PT

Ngày 15-11-2024

V/v: Tranh chấp đòi lại tài sản.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Mai Hằng

Các Thẩm phán: Ông Phạm Hồng Quân và bà Nguyễn Thị Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tố Uyên – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc Tranh chấp đòi lại tài sản.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên bị bị đơn kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXPT-DS ngày 28 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thúy P, sinh năm 1961, có mặt.

    Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện T, tỉnh Yên Bái.

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1958, có mặt.

    Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện T, tỉnh Yên Bái.

  3. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/ST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên và tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau:

Bà P có khai phá được 03 thửa ruộng lúa ở khu vực trước cửa nhà văn hóa thôn Đ, xã C, huyện T. Ngày 06/4/2000 Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái cấp Giấy chứng nhận quyền sửa dụng đất số P 969901 vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000518 QSDĐ/QĐUB.95 diện tích 330m² gồm các thửa 48a diện tích 72m², thửa 47a diện tích 43m², thửa 48 diện tích 215m² tại tờ bản đồ số 282E1, mục đích sử dụng là đất chuyên trồng lúa nước, địa chỉ thửa đất tại xã C, huyện T, tỉnh Yên Bái cho hộ ông Nguyễn Văn H1 (là chồng bà P). Năm 2014 ông H1 chết. Ngày 30/8/2019 có điều chỉnh biến động đất đai về quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thúy P toàn bộ các thửa đất nêu trên. Năm 2020 bà Nguyễn Thị H đã múc đất san lấp để làm nhà có đổ đất là bờ ao là đường ranh giới giữa hai nhà làm đất tràn xuống ruộng nhà bà. Ngoài ra, bà H còn trồng cây trên bờ ao làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của bà. Bà P đã nhắc nhở bà H nhiều lần nhưng bà H không thực hiện mà còn rào đường, để gỗ trên đường gây cản trở cho việc bà vào ruộng để canh tác. Bà P đã đề nghị chính quyền địa phương giải quyết, Ủy ban nhân dân xã C đã hòa giải nhưng không thành. Bà P đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà H phải trả lại cho bà diện tích đất đã lấn chiếm khoảng 200m². Tuy nhiên, sau khi xem xét thẩm định và tại biên bản hòa giải ngày 23/8/2024 bà P chỉ yêu cầu bà H trả lại cho bà diện tích đất 30m² trong số diện tích đất 43m² tại thửa 47a tờ bản đồ số 282E1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Bà Nguyễn Thị H trình bày: Gia đình bà có thửa đất số 125 diện tích 156m², tờ bản đồ số 282E4 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở gần nhà bà P. Năm 1999 chồng bà là ông Nguyễn Quang H2 có thỏa thuận đổi đất nhưng chỉ thỏa thuận miệng với ông Nguyễn Văn H1 (chồng bà P), việc đổi đất như sau: Gia đình bà P sử dụng thửa đất số 125 diện tích 156m², tờ bản đồ số 282E4 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở gần nhà bà P, còn gia đình bà H sử dụng thửa 47a diện tích 43m² tại tờ bản đồ số 282E1. Nay ông H2 và ông H1 đều đã chết. Năm 2023 bà P thay đổi đòi lại diện tích đất tại thửa 47a diện tích 43m² tại tờ bản đồ số 282E1. Ngày 09/11/2023 tại buổi hòa giải tại thôn bà đã nhất trí trả lại diện tích đất tại thửa 47a diện tích 43m² tại tờ bản đồ số 282E1 cho bà P với sự chứng kiến của chính quyền địa phương. Bà P đã căng dây, đóng cọc nhưng bà P chưa trả lại đất cho bà nên bà đã dừng việc thu dọn cây cối và dỡ bỏ cọc rào tại thửa đất tranh chấp trên. Quá trình xem xét thẩm định tại chỗ xác định diện tích đất đang tranh chấp là 30m², bà nhất trí trả lại cho bà P.

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên xác định được: Diện tích đất tranh chấp là 30m² thuộc một phần của thửa 47a, tờ bản đồ số 282E1, diện tích 43m², mục đích sử dụng là đất chuyên trồng lúa nước, địa chỉ thửa đất tại thôn Đ, xã C, huyện T, tỉnh Yên Bái đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 969901 vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000518 QSDĐ/QĐUB.95 ngày 06/4/2000 cho hộ ông Nguyễn Văn H1 đã chuyển đổi quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thúy P. Hình thể thửa đất tranh chấp được giới hạn bởi các điểm: Từ điểm A0 đến B1 có chiều dài 4,1 mét; từ B1 đến B18 có chiều dài 7,1 mét; từ B18 đến B14 có chiều dài 4,1 mét và từ B14 đến A0 có chiều dài 6,7 mét (Vị trí, hình thể và kích thước các cạnh có sơ đồ kèm theo).

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 235, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26, điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thúy P về tranh chấp đòi lại tài sản: Bà Nguyễn Thị H trả cho bà Nguyễn Thúy P toàn bộ diện tích 30m² đất ruộng của thửa đất số 47a có tổng diện tích là 43 m² đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn H1 số 000518 QSDĐ/QĐUB.95, ngày 06-4-2000 diện tích 330m² người thừa kế bà Nguyễn Thúy P. Chi tiết thửa đất có các cạnh thửa từ điểm A0 - B1 có chiều dài 4,1 mét; từ B1 - B18 có chiều dài 7,1 mét; từ B18 - B14 có chiều dài 4,1 mét và từ B14 – A0 có chiều dài 6,7 mét (Chi tiết có sơ đồ kèm theo).

  2. Về án phí và chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí DSST. Bà Nguyễn Thúy P được hoàn trả lại số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2024/0000460 ngày 03-6-2024.

    Bà Nguyễn Thị H phải trả cho bà Nguyễn Thúy P toàn bộ tiền chi phí tố tụng là 9.600.300 đồng (Chín triệu sáu trăm nghìn ba trăm đồng).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định quyền và nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 16/9/2024 bị đơn bà Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo và được trình bày bổ sung ngày 29/10/2024, ngày 04/11/2024 không nhất trí phần quyết định của bản án về việc phải chịu chi phí tố tụng cụ thể: Không chịu chi phí thẩm định tại chỗ, chi phí định giá, án phí dân sự sơ thẩm và yêu cầu bà P phải chứng minh: Vị trí, địa điểm, diện tích đất bà H đã lấn chiến ở đâu?; việc đổ đất san gạt mặt bằng và rào đường ở vị trí nào?; yêu cầu Tòa án công khai sơ đồ đo đạc, thẩm định này 17/7/2024.

*Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn không nhất trí trả lại diện tích đất 30m² thuộc một phần của thửa 47a, tờ bản đồ số 282E1 của bà P và không chịu chi phí tố tụng và án phí.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử: việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án phúc thẩm đến trước khi Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết, số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H.

  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên.

  3. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí phúc thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng; ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Người kháng cáo, nội dung và hình thức đơn kháng cáo, thời hạn kháng cáo là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H là hợp lệ và đúng theo luật định được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị H về việc không nhất trí trả lại diện tích đất 30m²: Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ xác định diện tích đất tranh chấp là 30m² thuộc một phần của thửa 47a, tờ bản đồ số 282E1, diện tích 43m², mục đích sử dụng là đất chuyên trồng lúa nước, địa chỉ thửa đất tại xã C, huyện T, tỉnh Yên Bái đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 969901 vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000518 QSDĐ/QĐUB.95 ngày 06/4/2000 cho hộ ông Nguyễn Văn H1 đã chuyển đổi quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thúy P. Hơn nữa, tại phiên hòa giải, phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm bà H đều xác định và công nhận diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà P như biên bản xem xét thẩm định tại chỗ là đúng nhưng bà H không đồng ý trả lại. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà H phải trả cho bà P diện tích đất nêu trên là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị H về việc bà không đồng ý chịu chi phí thẩm định tại chỗ, chi phí định giá và án phí dân sự sơ thẩm.

[3.1] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản:

Do yêu cầu của bà P được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị H phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Nguyễn Thị H phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản là đúng quy định.

[3.2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì “Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận”. Vì vậy, yêu cầu của bà Nguyễn Thúy P được Tòa án chấp nhận nên bà Nguyễn Thị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là đúng quy định pháp luật.

[3.3] Yêu cầu bà P phải chứng minh: Vị trí, địa điểm, diện tích đất bà H đã lấn chiến ở đâu?; việc đổ đất san gạt mặt bằng và rào đường ở vị trí nào?; yêu cầu Tòa án công khai sơ đồ đo đạc, thẩm định này 17/7/2024. Tại biên bản hòa giải tại xã C ngày 09/11/2023, biên bản lấy lời khai đương sự ngày 24/6/2024 tại Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên bà H trình bày “Ngày 09/11/2023 chúng tôi đã thống nhất tôi trả lại đất cho bà P diện tích đất 43m² tại thửa số 47a... nhưng bà P chưa trả mảnh đất của gia đình tôi nên tôi đã dừng việc chặt bỏ cọc rào. Hiện nay trên mảnh đất 43m² vẫn còn cọc rào của gia đình tôi”. Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/7/2024 đã xác định được diện tích đất đang chanh chấp là 30m² thuộc một phần của thửa 47a, tờ bản đồ số 282E1, diện tích 43m², mục đích sử dụng là đất chuyên trồng lúa nước, địa chỉ thửa đất tại xã C, huyện T, tỉnh Yên Bái đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 969901 vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000518 QSDĐ/QĐUB.95 ngày 06/4/2000 cho hộ ông Nguyễn Văn H1 đã chuyển đổi quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thúy P (có sơ đồ kèm theo) và đã được công bố tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 23/8/2024 tại Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên mà bà H đã tham dự. Tại phiên tòa phúc thẩm bà H xác định hiện tại bà đang sử dụng và đóng cọc trên diện tích đất nêu trên của bà P và bà xác nhận đang tham gia đầy đủ các buổi xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải cũng như phiên tòa. Như vậy, các yêu cầu nêu trên của bà H là không có căn cứ.

[4] Từ những nhận định, phân tích trên, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên. Tuy nhiên, do phần quyết định bản án tuyên còn chưa rõ ràng và thiếu phần trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án nên cần được tuyên lại.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

I. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái như sau:

Căn cứ vào Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 235, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26, điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thúy P về tranh chấp đòi lại tài sản đối với bà Nguyễn Thị H:

    Buộc bà Nguyễn Thị H trả lại cho bà Nguyễn Thúy P diện tích đất 30m² thuộc một phần đất thửa 47a, tờ bản đồ số 282E1, diện tích 43m², mục đích sử dụng là đất chuyên trồng lúa nước, địa chỉ thửa đất tại thôn Đ, xã C, huyện T, tỉnh Yên Bái đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 969901 vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000518 QSDĐ/QĐUB.95 ngày 06/4/2000 cho hộ ông Nguyễn Văn H1 đã chuyển đổi quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thúy P. Hình thể thửa đất tranh chấp được giới hạn bởi các điểm: Từ điểm A0 đến B1 có chiều dài 4,1 mét; từ B1 đến B18 có chiều dài 7,1 mét; từ B18 đến B14 có chiều dài 4,1 mét và từ B14 đến A0 có chiều dài 6,7 mét (Vị trí, hình thể và kích thước các cạnh có sơ đồ kèm theo).

  2. Về chi phí tố tụng:

    - Chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Bà Nguyễn Thị H phải chịu là 9.600.300 đồng (Chín triệu sáu trăm nghìn ba trăm đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản. Số tiền trên bà P đã nộp tạm ứng nên bà H phải có trách nhiệm hoàn trả.

    Kể từ ngày bà P có đơn yêu cầu thi hành án, mà bà H chưa thi hành hành khoản tiền chi phí tố tụng trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

    - Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Bà Nguyễn Thúy P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả lại số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2024/0000460 ngày 03/6/2024 của Chị cục Thi hành án dân sự huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

II. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số AA/2024/0000513 ngày 16/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

III. Các quyết định khác của bảnán sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà nội;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - TAND huyện Lục Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Yên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HCTP; HSVA.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Mai Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/DS-PT ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số bản án: 20/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger