|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2024/HS-ST Ngày 11 tháng 12 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Phương và bà Cù Thị Ngọc Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Hữu Lợi, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoài Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại điểm cầu P xử án Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang với điểm cầu thành phần nhà tạm giữ - Công an thị xã T, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Huỳnh Hữu L, sinh ngày 25/5/1995 tại tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông Huỳnh Công M, sinh năm 1968 và bà Tiêu Thị P, sinh năm 1968; vợ là Trần Thị Thúy L1, sinh năm 1996, có 01 người con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/6/2024, tạm giam từ ngày 13/6/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ - Công an thị xã T (có mặt).
- Lương Văn N, sinh ngày 13/4/2005 tại tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp N, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông Lương Văn B, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không, tiền sự: Ngày 23/4/2024, bị cáo N bị Công an xã T xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, số tiền 1.500.000 đồng (đã nộp phạt); bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/6/2024, tạm giam từ ngày 13/6/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ - Công an thị xã T (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Anh Trần Văn C, sinh năm 1993; nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- - Ông Tiêu Văn C1, sinh năm 1976; nơi cư trú: số nhà E, tổ B, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
- - Bà Tiêu Thị P, sinh năm 1968; nơi cư trú: tổ A, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
- - Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1970; nơi cư trú: số nhà A, tổ A, ấp N, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người chứng kiến: Lê Thị Thảo N1, Lê Công N2 (đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 05/6/2024, Đội kinh tế, ma túy – Công an thị xã T phối hợp cùng Công an xã T, kiểm tra nhà của Lương Văn N thuộc khu vực ấp N, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang phát hiện, bắt quả tang các bị cáo N và Huỳnh Hữu L về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trên giường ngủ của bị cáo N 01 bọc nilon trong suốt hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) và dụng cụ sử dụng.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) bọc nilon trong suốt hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) vỏ thuốc lá, hiệu JET (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di dộng, nhãn hiệu samsung, màu đen (đã qua sử dụng, của bị cáo L); 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màu đen (đã qua sử dụng, của bị cáo N); 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, bằng nhựa có gắn có thuỷ tinh, (đã qua sử dụng); 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu honda, loại ARIBLADE, màu: trắng - đỏ, biển số 67H1-475.99 (đã qua sử dụng) kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký mang tên Tiêu Văn C1.
Nguồn gốc số ma túy thu giữ, các bị cáo N, L khai: nguồn gốc ma túy là do các bị cáo N, L hùn tiền (bị cáo L hùn 500.000 đồng, bị cáo N hùn 1.200.000 đồng), bị cáo L mua của T (không rõ họ, ở A), nhờ Có E (không rõ họ, ở A) nhận ma túy tại nhà của Trần Văn C (bạn của L - ngụ xã V, huyện A, tỉnh An Giang). Sau khi mua ma túy, bị cáo L lấy 01 ít cho C để sử dụng, còn lại mang về nhà bị cáo N cất giấu để các bị cáo L, N cùng sử dụng, bị bắt quả tang.
Kết luận giám định số 758 ngày 11/6/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận: Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 1,3676 gam.
Cáo trạng số: 88/CT-VKSTC ngày 14/11/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu đã truy tố Huỳnh Hữu L, Lương Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm các bị cáo L, N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông C1, bà P, bà H trình bày phù hợp với nội dung cáo trạng nêu trên.
Ông C1, bà P, bị cáo L cùng đề nghị Hội đồng xét xử giao trả 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại ARIBLADE, màu: trắng - đỏ, biển số 67H1-475.99 (đã qua sử dụng) kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký mang tên Tiêu Văn C1 cho bà P vì ông C1, đã bán chiếc xe nêu trên cho bà P, bà P là người quản lý, sử dụng hợp pháp và việc bị cáo L mua ma túy và sử dụng ma túy thì bà P không biết.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra trình bày phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu L từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù; Lương Văn N từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù. Hình phạt bổ sung: do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không đề nghị hình phạt bổ sung. Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an thị xã T và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng K, Phan Phát T1. Mẫu còn lại sau giám định là ma túy, loại Methamphetamine; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet (bên trong rỗng); 01 chai nhựa có gắn co thủy tinh; Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samung màu đen; Giao trả cho bà Tiêu Thị P 01 xe mô tô hiệu Airblade màu trắng đỏ, biển số 67H1-475.99 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký mang tên Tiêu Văn C1; cho bị cáo N 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone màu đen.
Các bị cáo L và N không có tranh luận và bào chữa gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông C1, bà P, bà H không có ý kiến tranh luận;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo L, N đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 05/6/2024, tại nhà của bị cáo Lương Văn N thuộc khu vực ấp N, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang, các bị cáo Huỳnh Hữu L, Lương Văn N đã có hành vi tàng trữ trái phép ma tuý loại Methamphetamine, có tổng khối lượng: 1,3676g, với mục đích để sử dụng thì bị Đội kinh tế, ma túy – Công an thị xã T phối hợp cùng Công an xã T phát hiện và bắt quả tang.
Hành vi của các bị cáo Huỳnh Hữu L, Lương Văn N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, là nguyên nhân xảy ra nhiều loại tội phạm khác, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Do đó, cần xử lý nghiêm minh với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo L, N là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu về sử dụng ma túy của bản thân; Các bị cáo có hành vi cùng hùn tiền mua ma túy về sử dụng (bị cáo L hùn 500.000 đồng; bị cáo N hùn 1.200.000 đồng), các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nhưng chỉ mang tính chất giản đơn, không câu kết chặt chẽ. Bị cáo N là người hùn số tiền nhiều, có tiền sự chưa được xóa nên phải chịu mức hình phạt cao hơn so với bị cáo L. Riêng bị cáo L là người rủ rê, lôi kéo bị cáo N và hùn số tiền ít hơn N, nhưng bị cáo L là người đề xuất, rủ rê và liên lạc mua ma túy với T nên cũng phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất của bị cáo gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo L, N có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần bị hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất của vụ án, hiện tại trên địa bàn thị xã T các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, việc buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết để giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, các bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[6] Đối với người tên T, Có E (không rõ họ, địa chỉ cụ thể), chưa làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T, tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.
Đối với Trần Văn C không biết, không tham gia cùng T bán ma túy cho bị cáo L. Việc bị cáo L cho ma túy để C sử dụng, không thu giữ được vật chứng, việc sử dụng ma túy không bắt quả tang, ngoài lời khai không có chứng cứ khác, Cơ quan điều tra chưa có cơ sở xem xét xử lý, tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.
[7] Về vật chứng: Đối với 01 (một) phong bì được niêm phong (vụ số: 758/KL-KTHS ngày 11/06/2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Đăng K, Phan Phát T1; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, bằng nhựa có gắn có thuỷ tinh, (đã qua sử dụng); 01 (một) vỏ thuốc lá, hiệu JET (đã qua sử dụng) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ và là công cụ phạm tội bị thu giữ, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ; Đối với 01 (một) điện thoại di dộng, nhãn hiệu Samsung, màu đen (đã qua sử dụng) của bị cáo L, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Xét, tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước
Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màu đen (đã qua sử dụng) của bị cáo N không liên quan đến hành việc phạm tội của bị cáo nên giao trả cho bị cáo N.
Đối với 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy, đặc điểm số: 047807, tên chủ xe Tiêu Văn C1; 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu honda, loại ARIBLADE, màu: trắng - đỏ, biển số 67H1-475.99 (đã qua sử dụng) bà P là người quản lý, sử dụng hợp pháp; việc bị cáo L mua ma túy và sử dụng ma túy thì bà P không biết. Xét, giao trả lại cho bà P.
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Hữu L, Lương Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu L 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 05/6/2024);
Xử phạt bị cáo Lương Văn N 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 05/6/2024).
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong (vụ số: 758/KL-KTHS ngày 11/06/2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Đăng K, Phan Phát T1; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, bằng nhựa có gắn có thuỷ tinh, (đã qua sử dụng); 01 (một) vỏ thuốc lá, hiệu JET (đã qua sử dụng).
Tịch thu phát mãi sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di dộng, nhãn hiệu Samsung, màu đen (đã qua sử dụng);
Giao trả cho bà Tiêu Thị P 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy, đặc điểm số: 047807, tên chủ xe Tiêu Văn C1; 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu honda, loại ARIBLADE, màu: trắng - đỏ, biển số 67H1-475.99.
Giao trả cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màu đen (đã qua sử dụng).
(Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T với Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu).
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Huỳnh Hữu L và Lương Văn N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Thùy Dương |
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Huỳnh Hữu L và Lương Văn Nhựt có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy
