|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM BÌNH TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2024/HNGĐ - ST
Ngày 09/12/2024
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM BÌNH, TỈNH TUYÊN QUANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Văn Tiến
Các hội thẩm nhân dân: Bà Tạ Vân Anh và Ông Nguyễn Ngọc Tú
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Việt Anh – Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lâm Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hưng – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 71/2024/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/QĐST - HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Hà Thị T, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- - Bị đơn: Anh Triệu Văn T1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt không có lý do, đã được triệu tập hợp lệ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, nội dung bản tự khai, biên bản ghi lời khai, nguyên đơn chị Hà Thị T trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị T và anh Triệu Văn T1 qua tự nguyện tìm hiểu đã kết hôn năm 2006, đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 51 ngày 28/12/2006. Anh Chị sống chung tại thôn C, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Vợ chồng chung sống hoà thuận hạnh phúc cho đến giữa năm 2023 thì có mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, tính cách không hợp, vợ chồng xảy ra xô xát, anh T1 thường xuyên uống rượu về chửi mắng, đánh đập chị T. Anh chị đã ly thân từ cuối năm 2023 đến nay, kể từ khi ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay tình cảm vợ chồng không còn chị T đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn với anh Triệu Văn T1.
- - Về con chung: Có 04 con chung là Triệu Thị Huyền T2, sinh ngày 23/11/2006, Triệu Thị Minh H, sinh ngày 06/5/2008, Triệu Vũ Lan A, sinh ngày 30/01/2015 và Triệu Quang T3, sinh ngày 29/01/2019. Hiện nay 04 con đang ở cùng chị T. Khi ly hôn chị T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 04 con chung và không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.
- - Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Từ khi Tòa án thụ lý vụ án, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, phiên họp hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn anh Triệu Văn T1 đều vắng mặt không có lý do và không có quan điểm, ý kiến gửi đến Tòa án (anh T1 đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng). Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hà Thị T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến, quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết tại Tòa án và không thay đổi, bổ sung gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Bình phát biểu quan điểm tại phiên tòa:
- - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với đương sự: Nguyên đơn thực hiện đúng quy định, bị đơn không thực hiện về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; các Điều 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- + Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị T, cho chị Hà Thị T được ly hôn anh Triệu Văn T1.
- + Về con chung: Giao các con Triệu Thị Minh H sinh ngày 06/5/2008, Triệu Vũ Lan A sinh ngày 30/01/2015 và Triệu Quang Tân sinh ngày 29/01/2019 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn. Đối với cháu Triệu Thị Huyền T2, sinh ngày 23/11/2006 tại thời điểm xét xử vụ án cháu T2 đã đủ tuổi trưởng thành, có đầy đủ khả năng lao động và năng lực hành vi dân sự nên không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.
- + Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết, không đề cập xem xét.
- + Về nợ chung: Không có, không đề cập xem xét.
- + Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định; anh T1 không phải chịu án phí.
- + Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- + Về khắc phục kiến nghị vi phạm trong tố tụng: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Hà Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lâm Bình giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đối với anh Triệu Văn T1; Anh Triệu Văn T1 có hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Bình.
Theo cung cấp của Công an xã H, đại diện thôn Bản Luông thì anh Triệu Văn T1 có hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Tuyên Quang nhưng thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú và không thông báo địa chỉ cụ thể. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh T1 đến Tòa án để làm việc nhưng anh T1 vắng mặt không có lý do, anh T1 đã được thông báo nhưng vẫn không đến, đây được xác định là trường hợp bị đơn cố tình che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hà Thị T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Triệu Văn T1 vắng mặt không có lý do (đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng), Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Hà Thị T và anh Triệu Văn T1 là hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 51 ngày 28/12/2006. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại thôn C, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang một thời gian. Quá trình chung sống, do có nhiều mâu thuẫn, anh chị đã ly thân, anh T1 chuyển hộ khẩu về sống tại thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Tuyên Quang và chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh T1.
Qua điều tra xác minh xác định thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T1 đã rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; thể hiện tại các Biên bản xác minh ngày 31/10/2024 và 01/11/2024, anh chị mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có sự quan tâm chia sẻ, thiếu sự tin tưởng, nghi ngờ ghen tuông, xô xát, đánh chửi nhau, dẫn tới vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2023 đến nay; giữa anh chị không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc nhau, do vậy không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ. Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hà Thị T, cho chị T được ly hôn anh Triệu Văn T1.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống giữa chị T và anh T1 có 04 con chung là Triệu Thị Huyền T2, sinh ngày 23/11/2006, Triệu Thị Minh H, sinh ngày 06/5/2008, Triệu Vũ Lan A, sinh ngày 30/01/2015 và Triệu Quang T3, sinh ngày 29/01/2019. Hiện nay 04 con đang ở cùng chị T. Khi ly hôn chị T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 04 con chung và không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.
Qua nội dung bản tự khai, biên bản lấy lời khai đối với chị T, biên bản xác minh đối với đại diện thôn C, xã H và biên bản xác minh tại công an xã H cho thấy: 04 con chung của chị T, anh T1 ở cùng chị T kể từ khi chị T và anh T1 ly thân (cuối năm 2023), hiện nay các cháu đều do chị T trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc các con. Đối với cháu Triệu Thị Huyền T2, sinh ngày 23/11/2006 tại thời điểm xét xử vụ án cháu T2 đã đủ tuổi trưởng thành, có đầy đủ khả năng lao động và năng lực hành vi dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xét đề nghị của chị T về việc được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đối với các cháu Triệu Thị Minh H, Triệu Vũ Lan A và Triệu Quang T3 là phù hợp với thực tế và đảm bảo về quyền lợi của các con; Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử giao các cháu Triệu Thị Minh H, Triệu Vũ Lan A và Triệu Quang T3 cho chị Hà Thị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn và có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết; Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết; Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Căn cứ các Điều 143, 144, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chị Hà Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định; anh Triệu Văn T1 không phải chịu án phí.
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 143, 144, 147, các Điều 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị T.
- Về Hôn nhân: Cho chị Hà Thị T được ly hôn anh Triệu Văn T1 (Giấy chứng nhận kết hôn số 51 ngày 28/12/2006 tại UBND xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang).
- Về con chung: Giao các cháu Triệu Thị Minh H, sinh ngày 06/5/2008, Triệu Vũ Lan A, sinh ngày 30/01/2015 và Triệu Quang T3, sinh ngày 29/01/2019 cho chị Hà Thị T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Triệu Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn và có quyền và nghĩa vụ đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về án phí: Chị Hà Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003270 ngày 01/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Bình (chị T đã nộp đủ tiền án phí). Anh Triệu Văn T1 không phải chịu án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Dương Văn Tiến |
Bản án số 20/2024/HNGĐ - ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM BÌNH, TỈNH TUYÊN QUANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 20/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM BÌNH, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Hà Thị T yêu cầu ly hôn anh Triệu Văn T1
