Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/HS-ST

Ngày 03/12/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cà Văn Thanh, bà Hoàng Thanh Thúy.

- Thư ký phiên toà: Bà Cà Thị Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương, Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2024/TLST-HS ngày 10/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HS ngày 19/11/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 18 tháng 8 năm 2001 tại huyện Y, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản C, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Phạm Thị H; bị cáo có vợ Nguyễn Ngọc N và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 19/3/2024, Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội trộm cắp tài sản (hành vi thực hiện ngày 10/11/2023); ngày 07/6/2024 Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (hành vi thực hiện ngày 01/5/2024), chuyển đổi hình phạt cải tạo không giam giữ thành hình phạt tù và tổng hợp hình phạt của hai bản án là 13 tháng 22 ngày tù, tính từ ngày 01/5/2024; bị cáo đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam T3. Có mặt.

Bị hại: Công ty Cổ phần D1. Trụ sở: 405/15 X, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lường Văn C, quản lý khu vực; địa chỉ cư trú: Bản H, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. (Văn bản ủy quyền ngày 25/4/2024, ngày 14/9/2024). Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn Đ1, 42 tuổi; trú tại: Bản C, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Người làm chứng: Anh Kim Việt D, anh Điêu Chính L, anh Lò Trọng H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Cổ phần D1 được thành lập, đăng ký doanh nghiệp theo quy định của pháp luật, hoạt động trong lĩnh vực bưu chính, có chi nhánh tại thành phố S hoạt động theo ủy quyền của Công ty.

Ngày 24/02/2023, bên A Công ty ký hợp đồng dịch vụ với bên B Nguyễn Văn Đ, thời hạn hợp đồng từ ngày 24/02/2023 đến ngày 31/3/2024, với nội dung bên B cung cấp dịch vụ theo chuyên môn của bên A và các dịch vụ khác của bên A cho khách hàng của bên A; bên A trả phí dịch vụ cho bên B trên cơ sở kết quả thực hiện dịch vụ mà bên B thực hiện.

Sau khi ký hợp đồng, Nguyễn Văn Đ được cấp tài khoản làm việc trên ứng dụng của công ty, đăng ký bằng số điện thoại của Đồng 0398.935.xxx, tuyến làm việc do T Bưu cục giao, quy trình thực hiện công việc do Công ty B và nhân viên xử lý hướng dẫn.

Theo đó, hàng ngày Nguyễn Văn Đ phải tuân thủ quy định về đồng phục và giờ làm việc, chuẩn bị công cụ dụng cụ, đăng nhập ứng dụng để bắt đầu công việc, nhận đơn hàng trực tiếp từ kho, đồng kiểm với nhân viên xử lý đơn thực tế và trên phần mềm, giao hàng, thu tiền đối với các đơn hàng thu tiền hộ, cập nhật thông tin trên ứng dụng về tình trạng giao hàng, quay về chi nhánh trước 21 giờ cùng ngày, bàn giao và hoàn tất công việc, đồng kiểm và bàn giao hàng giao không thành công, bàn giao tiền đã nhận từ khách hàng cho nhân viên xử lý và theo dõi nhân viên xử lý xác nhận đã thu tiền trên hệ thống.

Ngày 10/5/2023, Nguyễn Văn Đ nhận 99 đơn hàng, thực hiện giao hàng thành công 81 đơn hàng và không giao được 18 đơn. Trong đó có 01 đơn hàng giao thành công của người gửi Tạ Xuân T1, địa chỉ số A N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội cho người nhận Nguyễn Văn Q tại địa chỉ giao hàng số G đường B, thành phố S, đơn hàng có mã vận đơn GAMLĐB8A, hàng giao là 01 chiếc đồng hồ LOBINNI No9222, số tiền thu hộ là 5.150.000 đồng. Anh Q đã nhận hàng và thanh toán đủ tiền. Đồng thao tác trên ứng dụng trạng thái giao hàng không thành công, khi kết thúc ngày làm việc, Đ điện thoại báo với nhân viên xử lý Lò Trọng H1 là Đ có người nhà bị tai nạn giao thông không về kho nộp tiền và bàn giao hàng mà gửi người quen đến kho nộp tiền và bàn giao hàng. Nhân viên xử lý Kim Việt D đã tiếp nhận 18 đơn hàng mà Đ không giao được trong ngày làm việc 10/5/2023 và tiếp nhận số tiền 11.500.000 đồng trong tổng số tiền tương ứng 80 đơn hàng giao thành công hiển thị trên ứng dụng là 24.543.445 đồng.

2

Sáng ngày 11/5/2023, Đ không đến kho nên anh H1 gọi điện thoại yêu cầu Đ về kho giải quyết việc nộp thiếu số tiền Đ đã thu được trong ngày 10/5/2023 và còn 01 đơn hàng còn lại trong ngày 10/5/2023 có trạng thái giao không thành công nhưng chưa bàn giao hàng về kho. Đ nói người nhà bị tai nạn rất nặng xin nghỉ thêm buổi sáng. Trong buổi sáng, Đ đã chuyển khoản cho nhân viên xử lý Điêu Chính L số tiền còn lại trong số tiền thu được của 80 đơn hàng hiển thị trạng thái giao hàng thành công trên ứng dụng tài khoản của Đồng ngày 10/5/2023 là 13.043.000 đồng.

Đến buổi chiều ngày 11/5/2023, nhân viên xử lý Lò Trọng H1 tiếp tục liên hệ điện thoại với Đ nhưng không liên lạc được. Công ty liên lạc với khách nhận hàng là anh Nguyễn Văn Q, anh Q xác nhận với công ty về việc anh đã nhận hàng và thanh toán đủ số tiền 5.150.000 đồng cho nhân viên có số điện thoại 0398.935.xxx.

Nguyễn Văn Đ sau đó nghỉ việc, đi khỏi địa chỉ tại thành phố S, nơi đã đăng ký thông tin tạm trú với công ty K ký hợp đồng và đã chi tiêu cá nhân hết số tiền 5.150.000 đồng.

Ngày 18/5/2023, Công ty Cổ phần D1 đã chuyển khoản số tiền phải thu cho khách hàng Tạ Xuân T1. Ngày 07/5/2024, đại diện Công ty gửi đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đề nghị giải quyết theo pháp luật.

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn Đ khai nhận đã cố ý cập nhật trạng thái giao hàng không thành công trên ứng dụng và lấy lý do gia đình có người bị tai nạn không về bàn giao lại được, do có việc cá nhân cần tiền nên đã thực hiện hành vi trên, số tiền chiếm đoạt đã chi tiêu hết không thu hồi được. Đối với chiếc sim và điện thoại của Nguyễn Văn Đ đã sử dụng để đăng ký tài khoản ứng dụng làm việc và thực hiện hành vi trên, tại phiên tòa, bị cáo khai đã vứt bỏ chiếc sim và bán chiếc điện thoại để chi tiêu.

Ngày 20/6/2024, ông Nguyễn Văn Đ1 (bố đẻ Nguyễn Văn Đ) đã thỏa thuận thay Nguyễn Văn Đ bồi thường cho công ty số tiền 5.150.000 đồng. Công ty không yêu cầu bồi thường khoản gì khác.

Tại thời điểm ngày 10/5/2023, anh Tạ Xuân T1, Nguyễn Văn Q là những người có quyền lợi liên quan đến vụ việc. Tuy nhiên, tại thời điểm bị hại trình báo, yêu cầu giải quyết vụ việc, các quyền lợi của 2 khách gửi và nhận hàng trên đều đã được công ty giải quyết, xác nhận thực hiện xong các giao dịch mua, gửi, nhận hàng; không ai có ý kiến, yêu cầu khác.

Bản cáo trạng số 464/CT-VKSTP ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố Nguyễn Văn Đ về tội tham ô tài sản quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

3

  1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội tham ô tài sản. Tổng hợp hình phạt với hình phạt chưa chấp hành của bản án số 25/2024/HS-ST ngày 19/3/2024 và bản án số 33/2024/HS-ST ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.
  2. Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc ông Nguyễn Văn Đ1 đã bồi thường cho Công ty Cổ phần D1 số tiền 5.150.000 đồng. Ông Nguyễn Văn Đ1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 5.150.000 đồng. Công ty Cổ phần D1 đã nhận bồi thường và không có đề nghị gì.
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí xét xử sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm và đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt và các văn bản ý kiến, đại diện bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm thiệt hại chi phí gì khác.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Đ1 trình bày ông được con trai Nguyễn Văn Đ nhờ bồi thường thay cho bị hại, ông đã thỏa thuận bồi thường và thực hiện xong, ông Đ1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền ông đã bồi thường thay bị cáo.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, những người làm chứng trình bày không thay đổi những lời khai báo tại cơ quan điều tra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về quá trình tiến hành tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định. Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, bị hại, những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại các quyết định, hành vi tố tụng.

Đối với 02 khách hàng của bị hại, gồm 01 người gửi hàng Tạ Xuân T1 đã được bị hại ứng tiền chuyển khoản thanh toán ngày 18/5/2023 và 01 người nhận hàng, thanh toán tiền hàng Nguyễn Văn Q, đã được bị hại xác nhận thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán và không yêu cầu gì khác, do vậy, tại thời điểm bị hại trình báo sự việc, yêu cầu điều tra thì các quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được giải quyết xong.

Đại diện bị hại có đề nghị đơn đề nghị xử vắng mặt, đã cung cấp các tài liệu chứng cứ, văn bản đề nghị về việc giải quyết vụ án. Những người làm chứng tại cơ quan điều tra đã cung cấp đầy đủ, rõ ràng lời khai về sự việc được chứng kiến; có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đại diện bị hại và những người làm chứng.

[2] Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm như Kết luận điều tra và Cáo trạng truy tố. Xét lời khai của bị cáo hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập, gồm: Các văn bản hợp đồng, phụ lục quy định công việc, quy trình thực hiện công việc; lời khai, đơn tố giác của đại diện bị hại; các tài liệu danh sách nhân viên, đơn hàng, trạng thái đơn hàng, các tài liệu về thanh toán các khoản tiền hàng; lời khai của anh Tạ Xuân T1, Nguyễn Văn Q, của những người làm chứng, người liên quan.

Có đủ căn cứ khẳng định:

Ngày 10/5/2023, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giao hàng, thu tiền của khách hàng và phải nộp tiền thu được về Công ty Cổ phần dịch vụ giao hàng nhanh trong ngày làm việc, Nguyễn Văn Đ đã thực hiện giao thành công và nhận của khách hàng số tiền thu hộ 01 đơn hàng là 5.150.000 đồng nhưng không nộp số tiền thu được 5.150.000 đồng cho Công ty mà sử dụng chi tiêu cá nhân, sau đó nghỉ việc, đi khỏi nơi cư trú đã đăng ký thông tin với Công ty; là hành vi tham ô tài sản, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo xâm phạm sở hữu tài sản, xâm phạm hoạt động đúng đắn và chế độ quản lý tài sản của Công ty Cổ phần D1. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi vi phạm pháp luật của mình nhưng vẫn thực hiện. Tội phạm thuộc loại nghiêm trọng.

Về nhân thân, bị cáo có 02 lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản, đều lần lượt thực hiện và bị kết án sau ngày 10/5/2023. Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La đã tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án, chuyển đổi các hình phạt khác loại là cải tạo không giam giữ và hình phạt tù, buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù còn lại của hai bản án.

Xét đối với hành vi vi phạm lần này của bị cáo, cần xử phạt nghiêm khắc nhằm trừng trị và giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung. Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Tố tụng hình sự, tổng hợp hình phạt chung của các bản án đối với bị cáo. Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo tự nguyện nhờ bố đẻ thay bị cáo bồi thường toàn bộ khoản tiền chiếm đoạt cho bị hại. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đại diện bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông ngoại tham gia kháng chiến, được tặng Kỷ niệm chương Quyết chiến bảo vệ Thị xã – Thành cổ Quảng Trị Hè 1972 và hưởng trợ cấp người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[3] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, thu nhập, không đảm nhiệm chức vụ, không áp dụng hình phạt bổ sung.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589, 597 Bộ luật Dân sự. Ghi nhận Công ty Cổ phần D1 và ông Nguyễn Văn Đ1 đã thỏa thuận, thực hiện xong thỏa thuận về việc ông Nguyễn Văn Đ1 thay cho Nguyễn Văn Đ bồi thường thiệt hại cho Công ty Cổ phần D1 số tiền 5.150.000 đồng. Công ty Cổ phần dịch vụ giao hàng nhanh không yêu cầu bồi thường chi phí gì khác. Ông Nguyễn Văn Đ1 không yêu cầu Nguyễn Văn Đ trả lại số tiền đã bồi thường thay 5.150.000 đồng.

[5] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

5

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55, 56 Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội tham ô tài sản.

    Xử phạt Nguyễn Văn Đ 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

    Tổng hợp hình phạt với bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La (đã chuyển đổi và tổng hợp hình phạt chung với bản án số 25/2024/HS-ST ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La là 13 tháng 22 ngày tù), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của các bản án là 37 (Ba mươi bảy) tháng 22 (Hai mươi hai) ngày tù.

    Trừ thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án số 33/2024/HS-ST ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La (đã chuyển đổi và tổng hợp hình phạt chung với bản án số 25/2024/HS-ST ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La) từ ngày 01/5/2024 đến ngày 02/12/2024 là 07 (Bảy) tháng 02 (Hai) ngày.

    Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung còn lại là 30 (Ba mươi) tháng 20 (Hai mươi) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt chung còn lại tính từ ngày 03/12/2024.

  2. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589, 597 Bộ luật Dân sự:

    Ghi nhận Công ty Cổ phần D1 và ông Nguyễn Văn Đ1 đã thỏa thuận, thực hiện xong thỏa thuận về việc ông Nguyễn Văn Đ1 thay cho Nguyễn Văn Đ bồi thường thiệt hại cho Công ty Cổ phần D1 số tiền 5.150.000 đồng (Năm triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng). Công ty Cổ phần D1 không yêu cầu bồi thường chi phí gì khác.

    Ông Nguyễn Văn Đ1 không yêu cầu Nguyễn Văn Đ trả lại số tiền đã bồi thường thay 5.150.000 đồng (Năm triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

6

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND thành phố Sơn La;
  • - Công an thành phố Sơn La;
  • - Chi cục THADS thành phố Sơn La;
  • - Trại giam;
  • - THAHS;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hồng Hạnh

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về hình sự sơ thẩm (tham ô tài sản)

  • Số bản án: 20/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm (Tham ô tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ng V Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger