|
TAND HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU ————— |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 20/2024/HS-ST
Ngày 29 -11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lò Văn Chiên
- Ông Ngô Văn Thế
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 18/11/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng Văn T; giới tính: Nam; sinh năm 1994; Nơi sinh: huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản N, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Giáy; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Vàng Văn L, sinh năm 1966 và con bà Giàng Thị H, sinh năm 1967; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Lý Phương T1, sinh năm 1996; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 08/6/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L, đến ngày 12/9/2024 chuyển đến Nhà tạm giữ Công an huyện P tạm giam cho đến nay. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nông Thị Minh H1 - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.
* Người làm chứng:
- - Anh Sùng A M, sinh năm 1999; địa chỉ: bản C, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
- - Anh Vàng Văn T2, sinh năm 2001; địa chỉ: Bản M, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 01/6/2024, Vàng Văn T đi bộ từ nhà đến bản Can Hồ xã S, huyện P mục đích tìm mua Heroine để sử dụng và bán kiếm lời. Khi tới nơi, T mua của một người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch 28 gói Heroine với giá 650.000đồng. Mua được H2, T mang về cất giấu dưới gốc cây ven đường ở đầu bản N, xã N không cho ai biết.
Khoảng 06 giờ ngày 02/6/2024, T đang ở nhà thì Sùng A M đến để cày ruộng cho nhà T, trước đó T thuê Mang cày ruộng 200.000 đồng/ngày. Trên đường ra ruộng, T vào gốc cây ven đường lấy 01 gói Heroine để trong lọ nhựa màu đỏ. T gọi Mang đến hỏi có muốn lấy Heroine thay tiền công không, M đồng ý, T và M thỏa thuận mỗi lần lấy Heroine sử dụng sẽ tính tương ứng số tiền công T trả cho M là 50.000 đồng. Sau đó, T và M đi vào bụi cây gần đó cùng nhau sử dụng hết gói Heroine bằng hình thức hít. Sử dụng xong, M đi cày ruộng còn T cầm số Heroine mua được hôm trước mang về lán, T cất giấu lọ nhựa đựng 26 gói Heroine trong túi quần bên phải đang mặc, 01 gói Heroine để trong túi nilon màu trắng cất giấu dưới mái lán ruộng. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi T và M đang ăn cơm ở lán ruộng thì Vàng Văn T2 đến hỏi mua Heroine sử dụng. T2 đưa cho T tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và nói 50.000 đồng trả nợ T (do trước đó T2 có nợ T số tiền 50.000 đồng), còn 50.000 đồng để mua Heroine. T đồng ý nhận tiền rồi lấy 01 gói Heroine trong lọ nhựa cấu một nửa bán cho T2. Sau đó, T và M ra bụi cây cách lán ruộng khoảng 100m cùng nhau sử dụng hết nửa gói Heroine còn lại, lần đưa H3 sử dụng này T cũng tính tương ứng số tiền công 50.000 đồng. Hồi 14 giờ 00 phút ngày 02/6/2024, Vàng Văn T và Sùng A M đang ở lán ruộng tại bản Nậm Xe, xã N, huyện P thì Công an xã N đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang T về hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý”, khi bị bắt Tới ném lọ nhựa đựng 25 gói Heroine từ trong lán ra ngoài bờ ruộng. Lực lượng Công an đưa T tới vị trí rơi lọ nhựa, T khai nhận đây là H3 của T, đồng thời T tự giao nộp 01 gói Heroine để dưới mái lán ruộng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Cơ quan điều tra triệu tập lấy lời khai của Vàng Văn T2, lời khai của T2 phù hợp với lời khai của T và M, T2 khai số Heroine mua được đã sử dụng hết trên đường đi về nhà.
Tại bản Kết luận giám định số 40/GĐVV ngày 02/6/2024 của người giám định theo vụ việc kết luận: số chất bột, màu trắng thu giữ của Vàng Văn T có tổng khối lượng là 2,994 gam. Tại bản Kết luận giám định số 649/KL-KTHS ngày 05/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 26 mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma tuý; loại Heroine.
Ngày 03/6/2024, Cơ quan điều tra cho Vàng Văn T, Vàng Văn T2 nhận diện tờ tiền bị thu giữ, kết quả: Tới, T2 xác nhận đây là tờ tiền mà T2 đưa cho T để mua Heroine và trả nợ. Tại bản Kết luận giám định số 64/KL-KTHS ngày 06/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: số tiền 100.000 đồng gửi giám định là tiền thật.
Ngày 26/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tiến hành thực nghiệm điều tra cho Vàng Văn T diễn lại hành vi mua bán trái phép chất ma túy, kết quả: Tới đã thực hiện lại hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai tại Cơ quan điều tra.
Bản cáo trạng số 112/CT-VKS ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Vàng Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản kết luận điều tra số 104/KLĐT ngày 29/9/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P và bản Cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự và xử lý vật chứng theo quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa.
Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình tham gia phiên tòa người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp, có đủ cơ sở để xác định: Trong buổi sáng và buổi trưa ngày 02/6/2024, tại bản Nậm Xe, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu, Vàng Văn T đã 03 lần bán trái phép Heroine cho Sùng A M và Vàng Văn T2. Trong đó 02 lần T đưa H3 cho M sử dụng, mỗi lần tính tương ứng 50.000 đồng tiền công làm thuê; 01 lần T bán H3 cho T2 lấy số tiền 50.000 đồng. Hồi 14 giờ 00 phút cùng ngày, T đang ở lán ruộng của gia đình tại bản Nậm Xe, xã N, huyện P thì bị Công an xã N bắt quả tang, thu giữ 26 gói Heroine có tổng khối lượng 2,994 gam tàng trữ để bán kiếm lời và tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng trong đó có 50.000 đồng do bán Heroine cho T2 mà có. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo hám lời và vì lợi ích cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, khi công an phát hiện bắt quả tang xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test nhanh kết quả xác định trong nước tiểu của bị cáo phát hiện có ma túy nhóm O (M, Heroine); bị cáo không có công việc ổn định, thường xuyên có mối quan hệ với các đối tượng nghiện chất ma túy. Bị cáo thuộc diện quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy của Ủy ban nhân dân xã N, huyện P.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần còn hạn chế. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để bị cáo có cơ hội cai nghiện ma túy và răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, nguồn thu thấp. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 2,994 gam Heroine thu giữ của Vàng Văn T, Cơ quan điều tra đã lấy 1,446 gam gửi giám định chất ma túy, không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vật chứng còn lại gồm: 1,528 gam Heroine; 01 lọ nhựa màu đỏ; 26 mảnh nilon màu trắng; 01 túi nilon màu trắng; 02 phong bì niêm phong đã mở là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Số tiền 100.000đồng thu giữ do bị cáo, trong đó 50.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước và 50.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo theo điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Vàng Văn T khai mua của một người không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
Đối với Sùng A M, Vàng Văn T, Vàng Văn T2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an huyện P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối là đúng quy định.
Đối với 02 lần sử dụng ma túy của M đều ngoài khu vực quản lý của T do đó T không phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
[7] Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề liên quan đến vụ án là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Xét đề nghị của người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Hội đồng xét xử thấy phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
- Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 1,528 gam Heroine; 01 lọ nhựa màu đỏ; 26 mảnh nilon màu trắng; 01 túi nilon màu trắng; 02 phong bì niêm phong đã mở.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) do bị cáo phạm tội mà có.
- Trả lại cho bị cáo số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ).
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Tuyết Thanh |
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu về hình sự sơ thẩm (tội mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vàng Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
