Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LA

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 20/2024/HS-ST

Ngày 28-11-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lò Văn Khẹt.

Ông Tòng Văn Máy.

- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Chí Công - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Vì Văn T, sinh ngày 01/6/1998, tại P, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản Cang Phiêng, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vì Văn H, sinh năm 1963 và bà Vì Thị È, sinh 1964; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/9/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bị hại:

Chị Quàng Thị T1, sinh năm 2009, địa chỉ: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt;

- Người đại diện hợp pháp cho người bị hại Quàng Thị T1: Ông Quàng Văn X, sinh năm 1982, bà Lò Thị D, sinh 1980 là bố mẹ. Địa chỉ: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Đều có đề nghị xử vắng mặt.

Chị Lù Thị D1, sinh năm 2008, địa chỉ: Bản K, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt;

- Người đại diện hợp pháp cho người bị hại Lù Thị D1: Ông Lù Văn D2, sinh năm 1982, bà Cà Thị D3, sinh 1986 là bố mẹ. Địa chỉ: Bản K, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Đều có đề nghị xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Vì Văn Ư, sinh năm 1991, địa chỉ: Bản C, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Vì Văn Tưởng bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 18/9/2024 Vì Văn T đi xe máy nhãn hiệu Honda Wave alpha BKS 26L1-132.99 từ Trung tâm Y tế huyện M (sau khi uống Methadone xong) đến khu vực nhà trọ thuộc tiểu khu E, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Vì Văn T để xe máy ở sân đi vào một phòng trọ cửa không khóa, trong phòng có hai người đang ngủ. Vì Văn T phát hiện 02 chiếc điện thoại di động để cạnh giường, quan sát thấy hai người ngủ say, Vì Văn T vào lấy 02 điện thoại cất giấu vào túi quần rồi đi xe máy về nhà.

Người bị hại chị Quàng Thị T1, sinh năm 2009, địa chỉ: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La và chị Lù Thị D1, sinh năm 2008, địa chỉ: Bản K, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La cùng với hai người đại diện hợp pháp (bố đẻ) có đơn trình báo Công an về việc tài sản bị trộm là mỗi người 01 chiếc điện thoại di động.

Thu giữ vật chứng gồm:

  • 01 chiếc điện thoại di động Iphone XR, độ vỏ Iphione 14, màu trắng thu giữ do Vì Văn Tưởng giao nộp;
  • 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11, màu đỏ, thu giữ do Vì Văn Tưởng giao nộp;
  • 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave alpha BKS 26L1-132.99.

Ngày 22/9/2024 Cơ quan Điều tra yêu cầu định 02 chiếc điện thoại thu giữ do Vì Văn Tưởng giao nộp.

Tại Kết luận định giá tài sản số 10/KL-ĐGTS ngày 24/9/2024 của Hội đồng định giá UBND huyện M, tỉnh Sơn La. Kết luận:

  • 01 chiếc điện thoại di động Iphone XR, độ vỏ Iphione 14, màu trắng có giá trị là 4.000.000, đồng;
  • 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11, màu đỏ có giá trị là 5.500.000, đồng;

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, hai người bị hại, những người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì kết luận định giá nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo V Văn Tưởng đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

Bản cáo trạng số: 140/CT-VKS-ML ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo:

Vì Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vì Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Vì Văn T từ 16 đến 22 tháng tù.

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án và trách nhiệm bồi thường: Căn cứ khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự.

Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại:

  • Chị Quàng Thị T1 01 chiếc điện thoại di động Iphone XR, độ vỏ Iphione 14, màu trắng;
  • Chị Lù Thị D1 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11, màu đỏ.

Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vì Văn Ư, địa chỉ: Bản C, xã P, huyện M 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave alpha BKS 26L1-132.99. do bị cáo mượn không liên quan đến việc phạm tội.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Vì Văn T phải chịu án 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Bị cáo, hai người bị hại, những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tố tụng: Người bị hại, những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có đề nghị xử vắng mặt, sự vắng mặt không ảnh hưởng đến giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt họ vẫn đảm bảo quyền lợi của họ.

[3]. Tại phiên toà bị cáo Vì Văn T thừa nhận:

Ngày 18/9/2024 đã lén lút, bí mật chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động Iphone XR, độ vỏ Iphione 14, màu trắng có giá trị là 4.000.000, đồng của chị Quàng Thị T1, sinh năm 2009, ở bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La và 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11, màu đỏ có giá trị là 5.500.000, đồng của chị Lù Thị D1, sinh năm 2008, ở bản K, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; đơn trình báo của hai người bị hại và những người đại diện hợp pháp của bị hại, lời khai của người làm chứng, lời khai của người liên quan, vật chứng của vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận định giá tài sản.

Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản có tổng trị giá là 9.500.000, đồng của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của công dân, trật tự an toàn xã hội do đó bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo Vì Văn T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại phiên tòa thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định tại điểm i “phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự

Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo được đánh giá nêu trên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo.

Về hình phạt Bổ sung - Phạt tiền: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản.

[4]. Vật chứng vụ án và trách nhiệm bồi thường: Căn cứ khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự.

Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại:

Chị Quàng Thị T1 01 chiếc điện thoại di động Iphone XR, độ vỏ Iphione 14, màu trắng; Chị Lù Thị D1 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11, màu đỏ. Hai người bị hại, những người đại diện hợp pháp của bị hại đều không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vì Văn Ư, địa chỉ: Bản C, xã P, huyện M 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave alpha BKS 26L1-132.99. do bị cáo mượn, anh V Văn Ư không biết việc phạm tội.

Bị cáo không có đơn đề nghị và tài liệu miễn án phí, do đó phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm i “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Vì Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Vì Văn Tưởng 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 20/9/2024.

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Vật chứng vụ án và trách nhiệm bồi thường: Căn cứ khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự.

Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại:

Chị Quàng Thị T1 01 chiếc điện thoại di động Iphone XR, độ vỏ Iphione 14, màu trắng; Chị Lù Thị D1 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11, màu đỏ. Hai người bị hại, những người đại diện hợp pháp của bị hại đều không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh V Văn Ương: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave alpha BKS 26L1-132.99.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Vì Văn T phải chịu án 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 28/11/2024.

Người bị hại, những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Mường La (2);
  • - Công an huyện Mường La;
  • - THAHS;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Mường La;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại (2);
  • - Những người đại diện hợp pháp của bị hại (2);
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Nguyễn Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 20/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự số 20, ngày 28/11/2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger