Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÔN ĐẢO

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

1

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/HS-ST

Ngày: 27-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Túy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Trần Văn Thanh.
  • - Bà Bùi Thị Tuyết Mai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Toà án nhân dân huyện Côn Đảo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Thành L, sinh năm 1998 tại Hậu Giang. Nơi thường trú: Ấp A, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Nơi ở hiện nay: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thành N và bà Trần Thị G; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; vợ là chị Nguyễn Thị Trúc P. Bị cáo có 02 người con sinh đôi vào năm 2024. Tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/7/2024 cho đến ngày xét xử “có mặt”.
  2. Lý Minh L1, sinh năm 1999 tại Hậu Giang. Nơi thường trú: Ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Nơi ở hiện nay: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn R và bà Phạm Thị Hồng Đ; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; vợ là chị Nguyễn Thị Diệu H (đã ly hôn). Bị cáo có 01 người con sinh năm 2020. Tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/7/2024 cho đến ngày xét xử “có mặt”.
  3. Lâm Văn Tuấn K, sinh năm 2001 tại Long An. Nơi thường trú: Ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Long An. Nơi ở hiện nay: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Nấu ăn; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn D và bà Trần Thị M; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/7/2024 cho đến ngày xét xử “có mặt”.
  4. Nguyễn Văn P1, sinh năm 2006 tại Cần Thơ. Nơi thường trú: Khu vực L, phường T, quận T, Tp .. Nơi ở hiện nay: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P2 và bà Nguyễn Thị Ngọc C; bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/7/2024 cho đến ngày xét xử “có mặt”.
  • - Bị hại: Anh Trần Hoàng T, sinh năm 2001; Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “có mặt”.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Lê Hữu A, sinh năm 2002; Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “vắng mặt”.
    2. Bà Võ Thị Tú L2, sinh năm 1979. Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.
    3. Ông Nguyễn Thế T1, sinh năm 1977; Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “vắng mặt”.
    4. Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “vắng mặt”.
    5. Bà Nguyễn Thị Kim N1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “vắng mặt”.
    6. Ông Lâm Văn D, sinh năm 1974; Địa chỉ: ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Long An “có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.
    7. Bà Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm 1980. Địa chỉ: Khu V L, phường T, quận T, Thành phố Cần Thơ “có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.
    8. Ông Trần Văn T2, sinh năm 1963; Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng “vắng mặt”.
  • - Người làm chứng:
    1. Ông Phạm Nhật Đ1, sinh năm 2000; Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “vắng mặt”.
    2. Ông Quách Văn N2, sinh năm 2001; Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 30/9/2023, Trần Thành L nhậu cùng với Nguyễn Văn P1, Lý Minh L1 và Lâm Văn Tuấn K tại nhà của L trong hẻm đường H, khu dân cư số C, huyện C. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 01/10/2023, Quách Văn N2 gọi điện rủ P1 ra bờ kè đường T thuộc Khu dân cư S, huyện C nhậu. P1 chạy xe mô tô ra bờ kè nhậu cùng N2 thì gặp Phan Nhật Đ2 và Lê Hữu A đang ngồi nhậu chung với N2. Trong lúc ngồi nhậu, A nói xấu L, nên P1 và A nảy sinh mâu thuẫn dẫn đến cãi nhau. P1 ngồi nhậu với N2, A, Đ2 thêm một lát thì chạy xe về lại nhà L nhậu cùng với L, L1, K. Trong lúc ngồi nhậu, P1 kể lại cho L, K, L1 nghe về việc A nói xấu Lảm.

Nhậu đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 01/10/2023, L, L1, P1, K thống nhất với nhau đi tìm A để đánh. Khi đi, K chạy xe mô tô loại Winner, biển số 62C1-165.54 chở L; L1 chạy xe loại Sirius, biển số 59H1-455.90 chở theo P1. P1 cầm theo 01 (một) chiếc nón bảo hiểm bằng nhựa để đánh A, còn L, L1, K không mang theo hung khí. Khi cả nhóm chạy xe ra bờ kè, giữa tượng con R1 và Khách sạn T4 trên đường T nhìn thấy A, N2, Đ2 đang ngồi nhậu. P1 chỉ A cho L, L1, K biết. Lúc này, P1 cầm nón bảo hiểm đánh A, còn L, L1, K lao vào đấm đá A tại nhiều vị trí trên người. Sau đó, được mọi người can ngăn nên L, P1, L1, K chạy xe về nhà L nhậu tiếp. Trên đường đi về, P1 làm rơi chiếc nón bảo hiểm dùng để đánh A.

Sau khi bị đánh, A gọi điện rủ Trần Hoàng T đi tìm nhóm của P1 để đánh lại. Thông đồng ý và điều khiển chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại Future, biển số 83P3-555.43 ra bờ kè, chỗ A đang ngồi nhậu. Tại đây, A, T, Đ2, N2 thống nhất đi tìm nhóm của P1 để đánh lại. T điều khiển chiếc xe mô tô biển số 83P3-555.43; A điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại xe SONIC 150R, biển số 83Z1-094.46; Nhí điều khiển chiếc xe mô tô loại xe Wave, biển số 72U1-0045 chở theo Đ2. Cả nhóm chạy đến cổng sau Nghĩa Trang H1 sau lưng nhà văn hóa Khu dân cư số 2 thì dừng lại, N2 hỏi T có đồ chơi không (tức là có hung khí không), T nói có. T chở N2 đến chỗ giấu hung khí, lấy một con dao mã tấu bằng kim loại đúc nguyên khối, màu nâu, dài 48,5 cm, bản rộng 5,5 cm, mũi nhọn, cán dao dài 13,5 cm đưa cho N2 cầm, T cầm một đoạn ống tuýp bằng kim loại dài khoảng 01 mét chạy quay lại chỗ Đ2, A đang chờ. Sau đó, N2 để lại xe của N2 ở cổng sau Nghĩa Trang H1, T chở N2 bằng xe của T và mang theo hung khí, A chở Đ2 bằng xe của A. Khi chạy đến ngã ba vùng giao giữa đường H - P - Võ Thị S thì xe của A bị hết xăng nên để lại trên lề đường. Đ2 sử dụng xe hiệu Honda, loại Future, biển số 83P3-555.43 của T chở theo A, T, N2. Nhí vẫn cầm theo con dao mã tấu, T vẫn cầm theo đoạn ống tuýp đi xuống nhà trọ của L ở Khu dân cư S, huyện C tìm để đánh lại nhóm của L, P1, L1, K.

Đến khoảng 03 giờ 00 phút cùng ngày, khi L, P1, L1, K đang ngồi nhậu tại nhà của L thì N2, A, Đ2, T đi vào. N2 cầm con dao mã tấu mũi nhọn đi đầu, theo sau là T cầm đoạn ống tuýp bằng kim loại, Đ2, A đi phía sau lưng T, cả bốn người lao vào đánh nhóm của L. Thấy vậy, P1 và K mỗi người cầm 01 chiếc ghế nhựa, màu xanh; L cầm một đoạn ống tuýp bằng kim loại, dạng ống tròn màu trắng có tay cầm dài 59 cm; L1 cầm chày đâm tiêu bằng gỗ và ca nhựa màu xanh đuổi đánh nhóm của A bỏ chạy ra đường H thuộc Khu dân cư S, C. Sau đó, P1 quay lại nhà L lấy cây gậy bằng kim loại dài 70 cm, đầu gậy có đường kính 05 cm, được sơn màu đen, nhãn hiệu “BAT” tiếp tục quay ra đường tìm đánh nhóm của A nhưng không thấy nhóm của A. Cả nhóm L, P1, L1, K tập trung tại ngã ba đầu hẻm đi vào nhà L trên đường H thì nhìn thấy chiếc xe mô tô biển số 83P3-555.43 của T đang nằm ngã trên đường, nên cả bốn người Lảm, P1, L1, K đi lại đập phá xe cho bõ tức. P1 dùng gậy bằng kim loại dài 70 cm đập nhiều cái vào phần đầu xe, yếm xe. K cầm một khúc gỗ dài khoảng 60 cm, đường kính khoảng 05 cm đập 05 cái vào bên hông xe, khúc gỗ bị gãy nên K tiếp tục nhặt viên gạch ném vào chiếc xe. Lành dùng chiếc ca nhựa, màu xanh và dùng chày đâm tiêu đập 02 - 03 cái vào ốp mặt nạ đồng hồ trên đầu xe; L dùng đoạn ống tuýp bằng kim loại màu trắng dài 59 cm đập 04 cái vào phần bên hông chiếc xe. Sau khi đập phá xe, K đi về nhà L còn P1, L, L1 đứng gần vị trí chiếc xe thì nhìn thấy A đang đi bộ lại gần. P1 cùng với L, L1 lao vào dùng tay, chân đấm, đá, đánh vào nhiều vị trí trên người A gây thương tích.

* Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 422/KLTTCT-PYBRVT ngày 13/10/2024 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh B đối với Lê Hữu A, kết luận:

  1. Các kết quả chính:
  2. Kết quả khám giám định: 05 vết sây sát da (03 vết khả năng lành đổi màu da).

  3. Kết luận:
  4. - Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Hữu A tại thời điểm giám định là 01% (Một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

    - Cơ chế tác động, chiều hướng và vật gây thương tích: Các thương tích của nạn nhân khả năng được gây ra do sự tác động tương hỗ bởi vật rắn tầy, tác động vào cơ thể theo nhiều hướng khác nhau; theo cơ chế: Cọ sát, va, đập (BLĐT: 114 - 116).

* Bản kết luận định giá tài sản số 07/KL - HĐĐGTS ngày 06/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C kết luận: Bộ vật tư, phụ tùng (gồm chóa đèn, ốp đầu xe, mặt nạ trước, cánh yếm trái và phải, ốp hông xe trái và phải trị giá 5.783.000 đồng; Gương chiếu hậu trị giá 67.000 đồng; Cổ gió bình xăng trị giá 463.000 đồng; Kính bảo vệ đồng hồ trị giá 160.000 đồng; C1 sửa chữa ốp bảo vệ pô 43.000 đồng. Tổng giá trị bị hư hỏng là 6.516.000 đồng (BLĐT: 84 - 87).

Tại văn bản số 542/TC - KH ngày 01/7/2024 của Phòng Tài chính - Kế hoạch, UBND huyện C thông báo kết quả định giá tài sản, theo giá trị sử dụng còn lại của các tài sản trước khi bị hư hỏng như sau: Bộ vật tư, phụ tùng (gồm chóa đèn, ốp đầu xe, mặt nạ trước, cánh yếm trái và phải, ốp hông xe trái và phải trị giá 2.313.000 đồng; Gương chiếu hậu trị giá 27.000 đồng; Cổ gió bình xăng trị giá 185.000 đồng; Kính bảo vệ đồng hồ trị giá 64.000 đồng; C1 sửa chữa ốp bảo vệ pô 43.000 đồng. Tổng giá trị bị hư hỏng là 2.632.000 đồng (BLÐT: 110 - 111).

Quá trình điều tra, Trần Thành L, Lý Minh L1, Lâm Văn Tuấn K và Nguyễn Văn P1 đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Tiếp nhận tin báo, cơ quan CSĐT công an huyện C tổ chức khám nghiệm hiện trường và thu giữ vật chứng gồm:

  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Future, màu Đen - xám - bạc, số máy 43D117143, số khung 35037Y064924, BKS: 83P3 - 555.43, bị hư hỏng;
  • 01 (một) dây chuyền bằng kim loại, màu trắng bạc, đã bị đứt làm 2 phần của Nguyễn Văn P1;
  • 01 (một) chiếc ghế bằng nhựa, màu xanh, trắng, kích thước 28 cm x 38 cm x 68 cm đã qua sử dụng, bị gãy 01 chân;
  • 01 (một) chiếc chày bằng gỗ, dài 21 cm, đầu chày có đường kính 4,5 cm, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) cây gậy bằng kim loại, dài 70 cm, đầu gậy có đường kính 5 cm, được sơn màu đen, nhãn hiệu “BAT”, đã qua sử dụng, phần thân gậy bị móp và bong tróc sơn;
  • 01 (một) cây đao bằng kim loại màu nâu được đúc nguyên khối, dài 48,5 cm, bản rộng 5,5 cm, có một mũi nhọn, kích thước cán đao dài 13,5 cm;
  • Nhiều mảnh vỡ bằng nhựa của xe mô tô biển kiểm soát 83P3 – 555.43 và mảnh gỗ, gạch lát;
  • Nhiều mảnh vỡ bằng nhựa, màu đen và xốp màu trắng của mũ bảo hiểm (BLÐT: 154 -155).

Đồng thời triệu tập các đối tượng làm việc và thu giữ các vật chứng:

  • 01 (một) ống tuýp bằng kim loại, dạng ống hình tròn, màu trắng, kích thước có tay cầm dài 59 cm, trong đó: tay cầm dài 16 cm, thân ống dài 43 cm;
  • 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha - Sirius, màu Đen Xám, số máy: 1FC4009599, số khung: RLCS1FC40EY009587, biển kiểm soát 59H1-455.90;
  • 01 (một) xe mô tô loại Wave Alpha, màu xanh, số máy: HC09E5440282, số khung: RLHHC09057Y340382, biển kiểm soát 72U1-0045;
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda - Winner, màu Đen Vàng Đồng, số máy: KC26E1278057, số khung: 2601KY211036, biển kiểm soát 62C1-165.54 (BLÐT: 210, 228, 259, 304).

* Về xử lý vật chứng:

  • - Quá trình điều tra xác định xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Future, màu Đen - xám - bạc, số máy 43D117143, số khung 35037Y064924, biển kiểm soát 83P3 - 555.43 đứng tên đăng ký là ông Trần Văn T2. Năm 2023, ông T2 cho con trai là Trần Hoàng T mang ra C làm phương tiện đi lại. Đến ngày 01/10/2023, chiếc xe bị các bị can đập phá gây hư hỏng, anh T yêu cầu được nhận lại xe. Ngày 14/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại chiếc xe nêu trên cho Trần Hoàng T (BLĐT: 121, 288).
  • - Đối với 01 (một) xe mô tô loại Wave Alpha, màu xanh, số máy: HC09E-5440282, số khung: RLHHC09057Y340382, biển kiểm soát 72U1-0045: Do ông Võ Hoàng P3 đứng tên sở hữu. Đến năm 2019, ông P3 bán chiếc xe cho cháu ruột là Võ Thị Tú L2 với giá 15.000.000 đồng để làm phương tiện đi lại. Từ tháng 9/2023, chồng chị L2 là anh Nguyễn Thế T1 cho Quách Văn N2 mượn xe làm phương tiện đi lại. Nhí sử dụng xe chở theo người khác mang theo hung khí đi xuống khu dân cư số 3 với mục đích đánh nhau, không liên quan đến vụ án. Vợ chồng chị L2 có đơn xin nhận lại tài sản nên ngày 26/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại chiếc xe nêu trên cho chị L2 và anh P3 (BLÐT: 122, 330).
  • - Đối với 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha - Sirius, màu Đen Xám, số máy: 1FC4009599, số khung: RLCS1FC40EY009587, biển kiểm soát 59H1-455.90: Do ông Trần Ngọc T3 đứng tên sở hữu. Vào năm 2014, ông T3 có hộ khẩu thường trú tại Tp . nên đứng tên chiếc xe dùm cho vợ chồng em họ là Nguyễn Văn D1 và Nguyễn Thị Kim N1, do thời điểm này D1 và N1 mua xe tại Tp . nhưng không có hộ khẩu nên không đăng ký được. Sau khi được cấp giấy đăng ký xe thì ông T3 đã bàn giao xe cùng giấy tờ cho anh D1 chị N1 quản lý và sử dụng. Chị N1 và anh D1 giao xe cho nhân viên là Lý Minh L1 sử dụng làm phương tiện đi lại. Lành sử dụng xe chở theo người khác đi đánh nhau, không liên quan đến vụ án. Vợ chồng chị N1 có đơn xin nhận lại tài sản nên ngày 26/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại chiếc xe nêu trên cho chị N1 và anh D1 (BLĐT: 123, 339).
  • - Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda - Winner, màu Đen Vàng Đồng, số máy: KC26E1278057, số khung: 2601KY211036, biển kiểm soát 62C1-165.54: Do ông Lâm Văn D đứng tên sở hữu. Năm 2023, ông D cho con là Lâm Văn Tuấn K mượn xe mang ra C làm phương tiện đi lại. K sử dụng xe đi đánh nhau ông D không biết, không liên quan đến vụ án. Ông D có đơn xin nhận lại tài sản nên ngày 27/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại chiếc xe nêu trên cho ông Lâm Văn D (BLĐT: 124, 319).
  • - Những vật chứng gồm: 01 (một) dây chuyền bằng kim loại, màu trắng bạc, đã bị đứt làm 2 phần của Nguyễn Văn P1; 01 (một) chiếc ghế bằng nhựa, màu xanh, trắng, kích thước 28 cm x 38 cm x 68 cm đã qua sử dụng, bị gãy 01 chân; 01 (một) chiếc chày bằng gỗ, dài 21 cm, đầu chày có đường kính 4,5 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cây gậy bằng kim loại, dài 70 cm, đầu gậy có đường kính 5 cm, được sơn màu đen, nhãn hiệu “BAT”, đã qua sử dụng, phần thân gậy bị móp và bong tróc sơn; 01 (một) cây đao bằng kim loại màu nâu được đúc nguyên khối, dài 48,5 cm, bản rộng 5,5 cm, có một mũi nhọn, kích thước cán đao dài 13,5 cm; Nhiều mảnh vỡ bằng nhựa của xe mô tô BKS 83P3 - 555.43 và mảnh gỗ, gạch lát; Nhiều mảnh vỡ bằng nhựa, màu đen và xốp màu trắng của mũ bảo hiểm; 01 (một) ống tuýp bằng kim loại, dạng ống hình tròn, màu trắng, kích thước có tay cầm dài 59 cm, trong đó: tay cầm dài 16 cm, thân ống dài 43 cm. Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo đã ra quyết chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo bảo quản, chờ xử lý.

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, các bị cáo đã tự nguyện sửa chữa khắc phục chiếc xe bị hư hỏng cho bị hại. Bị hại Trần Hoàng T đã nhận lại xe và không có yêu cầu bồi thường dân sự gì thêm đồng thời có yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo (BLĐT: 276 - 284).

Tại bản Cáo trạng số: 23/CT-VKSCĐ ngày 28/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo truy tố các bị cáo về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố các bị cáo Trần Thành L, Lý Minh L1, Lâm Văn Tuấn K và Nguyễn Văn P1 phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 50, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt các bị cáo Trần Thành L, Lý Minh L1, Lâm Văn Tuấn K mức án từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án ngày 27/11/2024.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 91; Điều 101 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt Nguyễn Văn P1 06 (sáu) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án ngày 27/11/2024.
  • - Về trách nhiệm dân sự:
  • Các bị cáo đã tự nguyện sửa chữa khắc phục chiếc xe bị hư hỏng cho bị hại. Bị hại Trần Hoàng T đã nhận lại xe và không có yêu cầu bồi thường dân sự gì thêm về trách nhiệm dân sự.
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) dây chuyền bằng kim loại, màu trắng bạc, đã bị đứt làm 2 phần của Nguyễn Văn P1; 01 (một) chiếc ghế bằng nhựa, màu xanh, trắng, kích thước 28 cm x 38 cm x 68 cm đã qua sử dụng, bị gãy 01 chân; 01 (một) chiếc chày bằng gỗ, dài 21 cm, đầu chày có đường kính 4,5 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cây gậy bằng kim loại, dài 70 cm, đầu gậy có đường kính 5 cm, được sơn màu đen, nhãn hiệu “BAT”, đã qua sử dụng, phần thân gậy bị móp và bong tróc sơn; 01 (một) cây đao bằng kim loại màu nâu được đúc nguyên khối, dài 48,5 cm, bản rộng 5,5 cm, có một mũi nhọn, kích thước cán đao dài 13,5 cm; Nhiều mảnh vỡ bằng nhựa của xe mô tô BKS 83P3 - 555.43 và mảnh gỗ, gạch lát; Nhiều mảnh vỡ bằng nhựa, màu đen và xốp màu trắng của mũ bảo hiểm; 01 (một) ống tuýp bằng kim loại, dạng ống hình tròn, màu trắng, kích thước có tay cầm dài 59 cm, trong đó: tay cầm dài 16 cm, thân ống dài 43 cm. Bị cáo P1 và L từ chối nhận lại nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo truy tố, không tranh tụng tại phiên tòa và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 03 giờ ngày 01/10/2023, tại đường H thuộc Khu dân cư S, huyện C, Trần Thành L, Lý Minh L1, Lâm Văn Tuấn K, Nguyễn Văn P1 đã có hành vi dùng hung khí đập phá gây hư hỏng: chóa đèn, ốp đầu xe, mặt nạ trước, cánh yếm trái và phải, ốp hông xe trái và phải; Gương chiếu hậu; Cổ gió bình xăng; Kính bảo vệ đồng hồ xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, màu Đen - xám - bạc, biển kiểm sát 83P3 - 555.43 do anh Trần Hoàng T là người đang quản lý, sử dụng. Tổng tài sản bị hư hỏng có giá trị là 2.632.000 đồng. Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Các bị cáo Trần Thành L, Lý Minh L1, Lâm Văn Tuấn K là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức pháp luật, biết rõ hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo Nguyễn Văn P1 mặc dù tại thời điểm phạm tội thì phát là người chưa thành niên (17 tuổi 08 tháng 12 ngày) nhưng đến độ tuổi này thì P1 có đủ nhận thức pháp luật để biết hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác là phạm tội nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Sự cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội đồng thời mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo để quyết định một mức hình phạt phù hợp.

Đây là vụ án có đồng phạm. Tuy nhiên, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ nên không phải phạm tội có tổ chức mà chỉ là đồng phạm giản đơn. Các bị cáo phạm tội một cách tự phát và đều có vai trò ngang nhau.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, khắc phục thiệt hại cho bị hại. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Tại thời điểm phạm tội bị cáo P1 là người chưa thành niên, bị cáo L1 đang nuôi con nhỏ, sinh ngày 23/02/2020 (có xác nhận của UBND Thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Thấy chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách là phù hợp, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.

Như vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 50, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với các bị cáo: Trần Thành L, Lý Minh L1, Lâm Văn Tuấn K. Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 91; Điều 101 và Điều 65 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn P1.

[5] Đối với thương tích 1% của Lê Hữu A do Trần Thành L, Lý Minh L1, Lâm Văn Tuấn K và Nguyễn Văn P1 gây ra: Ngày 02/10/2023, A có đơn bãi nại, yêu cầu không xử lý hình sự đối với L, L1, K và P1. Do đó, cơ quan CSĐT Công an huyện không xem xét, xử lý về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 134 BLHS. Công an huyện C căn cứ điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ - CP xử phạt 6.500.000 đồng/một người đối với L, L1, K. Riêng P1 do thời điểm vi phạm chưa đủ 18 tuổi nên xử phạt 3.250.000 đồng là phù hợp.

[6] Đối với hành vi mang theo hung khí đi đánh nhau, gây rối vào ngày 01/10/2023 của Trần Hoàng T, Lê Hữu A, Phan Nhật Đ2, Quách Văn N2: Quá trình điều tra xác định khu vực xảy ra vụ việc là nơi vắng vẻ, thời điểm đêm khuya, không có người qua lại nên hành vi của các đối tượng nêu trên không đủ yếu tố cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại Điều 318 BLHS. Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt VPHC theo quy định tại điểm b, khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ – CP với mức phạt 6.500.000 đồng/một người đối với Trần Hoàng T, Lê Hữu A, Phan Nhật Đ2. Hiện A và T đã nộp phạt. Riêng Quách Văn N2 hiện đã bỏ về đất liền, không rõ đi đâu làm gì nên Cơ quan CSĐT Công an huyện C tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.

[7] Đối với vật chứng là 01 chiếc ca nhựa màu xanh, có nắp đậy màu xanh, đường kính miệng ca khoảng 12 cm, chiều cao khoảng 25 cm: Sau khi L1 dùng để đập phá chiếc xe Honda, loại Future, màu Đen – xám – bạc, biển kiểm soát 83P3 - 555.43 gây hư hỏng, Lành đã ném bỏ chiếc ca, không rõ địa điểm. Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Thông báo truy tìm vật chứng nêu trên, khi nào xác định được sẽ xử lý sau là phù hợp.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã sửa chữa, khắc phục thiệt hại cho bị hại. Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Future, màu Đen - xám -bạc, số máy 43D117143, số khung 35037Y064924, biển kiểm soát 83P3 - 555.43; Quá trình điều tra xác định xe đứng tên đăng ký là ông Trần Văn T2. Năm 2023, ông T2 cho con trai là Trần Hoàng T mang ra C làm phương tiện đi lại. Đến ngày 01/10/2023, chiếc xe bị các bị cáo đập phá gây hư hỏng, anh T yêu cầu được nhận lại xe. Ngày 14/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại chiếc xe nêu trên cho Trần Hoàng T là phù hợp.
  • - Đối với 01 (một) xe mô tô loại Wave Alpha, màu xanh, số máy: HC09E-5440282, số khung: RLHHC09057Y340382, biển kiểm soát 72U1-0045; Quá trình điều tra xác định xe do ông Võ Hoàng P3 đứng tên sở hữu. Đến năm 2019, ông P3 bán chiếc xe cho cháu ruột là Võ Thị Tú L2 với giá 15.000.000 đồng để làm phương tiện đi lại. Từ tháng 9/2023, chồng chị L2 là anh Nguyễn Thế T1 cho Quách Văn N2 mượn xe làm phương tiện đi lại. Nhí sử dụng xe chở theo người khác mang theo hung khí đi xuống khu dân cư số 3 với mục đích đánh nhau, không liên quan đến vụ án. Vợ chồng chị L2 có đơn xin nhận lại tài sản nên ngày 26/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại chiếc xe nêu trên cho chị L2 và anh P3 là phù hợp.
  • - Đối với 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha - Sirius, màu Đen Xám, số máy: 1FC4009599, số khung: RLCS1FC40EY009587, biển kiểm soát 59H1-455.90; Quá trình điều tra xác định xe do ông Trần Ngọc T3 đứng tên sở hữu. Vào năm 2014, ông T3 có hộ khẩu thường trú tại Tp. nên đứng tên chiếc xe dùm cho vợ chồng em họ là Nguyễn Văn D1 và Nguyễn Thị Kim N1, do thời điểm này D1 và N1 mua xe tại Tp . nhưng không có hộ khẩu nên không đăng ký được. Sau khi được cấp giấy đăng ký xe thì ông T3 đã bàn giao xe cùng giấy tờ cho anh D1 chị N1 quản lý và sử dụng. Chị N1 và anh D1 giao xe cho nhân viên là Lý Minh L1 sử dụng làm phương tiện đi lại. Lành sử dụng xe chở theo người khác đi đánh nhau, không liên quan đến vụ án. Vợ chồng chị N1 có đơn xin nhận lại tài sản nên ngày 26/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại chiếc xe nêu trên cho chị N1 và anh D1 là phù hợp.
  • - Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda - Winner, màu Đen Vàng Đồng, số máy: KC26E1278057, số khung: 2601KY211036, biển kiểm soát 62C1-165.54; Quá trình điều tra xác định xe do ông Lâm Văn D đứng tên sở hữu. Năm 2023, ông D cho con là Lâm Văn Tuấn K mượn xe mang ra C làm phương tiện đi lại. K sử dụng xe đi đánh nhau ông D không biết, không liên quan đến vụ án. Ông D có đơn xin nhận lại tài sản nên ngày 27/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại chiếc xe nêu trên cho ông Lâm Văn D là phù hợp.
  • Đối với các vật chứng gồm: 01 (một) dây chuyền bằng kim loại, màu trắng bạc, đã bị đứt làm 2 phần của Nguyễn Văn P1; 01 (một) chiếc ghế bằng nhựa, màu xanh, trắng, kích thước 28 cm x 38 cm x 68 cm đã qua sử dụng, bị gãy 01 chân; 01 (một) chiếc chày bằng gỗ, dài 21 cm, đầu chày có đường kính 4,5 cm, đã qua sử dụng là của L; 01 (một) cây gậy bằng kim loại, dài 70 cm, đầu gậy có đường kính 5 cm, được sơn màu đen, nhãn hiệu “BAT”, đã qua sử dụng, phần thân gậy bị móp và bong tróc sơn là của K; 01 (một) cây đao bằng kim loại màu nâu được đúc nguyên khối, dài 48,5 cm, bản rộng 5,5 cm, có một mũi nhọn, kích thước cán đao dài 13,5 cm là của nhóm A; Nhiều mảnh vỡ bằng nhựa của xe mô tô BKS 83P3 - 555.43 và mảnh gỗ, gạch lát là của L; Nhiều mảnh vỡ bằng nhựa, màu đen và xốp màu trắng của mũ bảo hiểm; 01 (một) ống tuýp bằng kim loại, dạng ống hình tròn, màu trắng, kích thước có tay cầm dài 59 cm, trong đó: tay cầm dài 16 cm, thân ống dài 43 cm là của L là những vật không có giá trị sử dụng. Bị cáo L, P1 và K và bị hại T đều từ chối nhận lại nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.

[10] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Trần Thành L, Lý Minh L1, Lâm Văn Tuấn K, Nguyễn Văn P1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thành L, Lý Minh L1, Lâm Văn Tuấn K, Nguyễn Văn P1 phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 50, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự;

    - Xử phạt Trần Thành L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án ngày 27/11/2024.

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 50, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự;

    - Xử phạt Lý Minh L1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án ngày 27/11/2024.

  3. Căn cứ khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 50, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự;

    - Xử phạt Lâm Văn Tuấn K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án ngày 27/11/2024.

  4. Căn cứ khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 91; Điều 101 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt Nguyễn Văn P1 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án ngày 27/11/2024.

Giao Trần Thành L, Lý Minh L1, Lâm Văn Tuấn K, Nguyễn Văn P1 cho Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp Trần Thành L, Lý Minh L1, Lâm Văn Tuấn K, Nguyễn Văn P1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự”.

2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

3. Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) dây chuyền bằng kim loại, màu trắng bạc, đã bị đứt làm 2 phần; 01 (một) chiếc ghế bằng nhựa, màu xanh, trắng, kích thước 28 cm x 38 cm x 68 cm đã qua sử dụng, bị gãy 01 chân; 01 (một) chiếc chày bằng gỗ, dài 21 cm, đầu chày có đường kính 4,5 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cây gậy bằng kim loại, dài 70 cm, đầu gậy có đường kính 5 cm, được sơn màu đen, nhãn hiệu “BAT”, đã qua sử dụng, phần thân gậy bị móp và bong tróc sơn; 01 (một) cây đao bằng kim loại màu nâu được đúc nguyên khối, dài 48,5 cm, bản rộng 5,5 cm, có một mũi nhọn, kích thước cán đao dài 13,5 cm; Nhiều mảnh vỡ bằng nhựa của xe mô tô BKS 83P3 - 555.43 và mảnh gỗ, gạch lát; Nhiều mảnh vỡ bằng nhựa, màu đen và xốp màu trắng của mũ bảo hiểm; 01 (một) ống tuýp bằng kim loại, dạng ống hình tròn, màu trắng, kích thước có tay cầm dài 59 cm, trong đó: tay cầm dài 16 cm, thân ống dài 43 cm.

(Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2024).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Trần Thành L, Lý Minh L1, Lâm Văn Tuấn K, Nguyễn Văn P1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/11/2024). Các bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo; đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì thời hạn này được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - PV 06 CA tỉnh BR-VT;
  • - PC 10 CA tỉnh BR-VT;
  • - VKSND huyện Côn Đảo;
  • - Công an huyện Côn Đảo;
  • - Chi Cục THADS huyện Côn Đảo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Túy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về cố ý làm hư hỏng tài sản

  • Số bản án: 20/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo L -L1 -K -P1 cố ý làm hư hỏng tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger