Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/HS-ST;

Ngày: 26 - 11 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Minh Quân;

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Thanh Tùng;
  2. Ông Lê Thành Thạnh Tiến;

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông: Bà Huỳnh Thị Kim Thoa – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2024/TLST-HS ngày 25/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HS ngày 11/11/2024, đối với bị cáo:

Huỳnh Văn H – sinh ngày 01/01/1976, tại tỉnh Tiền Giang;

Chứng minh nhân dân số: [...]; nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn L (chết) và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1933; vợ: Huỳnh Thị Mỹ D, sinh năm 1982 (đã ly hôn), có 02 con chung; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

* Người bị hại: Phạm Thị Mỹ K – sinh năm 1994 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Nơi cư trú: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Ngô Thành T – sinh năm 1990 (vắng mặt);

Nơi cư trú: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

* Người làm chứng:

  1. Phan Văn N – sinh năm 1971 (vắng mặt);

Nơi cư trú: ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang;

- 2 -

  1. Huỳnh Văn T1 – sinh năm 1987 (vắng mặt);

Nơi cư trú: ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 03/8/2024, chị Phạm Thị Mỹ K điều khiển xe mô tô biển số 63B8 – 535.82 do anh Ngô Thành T (chồng chị K) đứng tên chủ sở hữu đến đoạn đường đan thuộc ấp T, xã P, huyện T để trồng sả. Khi đến nơi, chị K dựng xe trên đường đan và đi vào khu vực đất trồng sả (cách vị trí dựng xe khoảng 20m). Lúc này sau khi uống rượu tại nhà anh Phan Văn T2, bị cáo Huỳnh Văn H đi bộ ra đường đan thuộc ấp T, xã P, huyện T, cách nhà anh T2 khoảng 40m thì nhìn thấy xe mô tô của chị K dựng bên lề không người trông coi, chìa khóa xe còn cắm trên ổ khóa, nên H nảy sinh ý định trộm xe. Sau khi nhìn xung quanh thấy không có người, H đi đến xe mô tô dùng tay mở khóa rồi khởi động và điều khiển xe chạy ra hướng đường đê cặp tuyến sông C (đường H) chạy về hướng phà B. Khi đến đoạn đường đê thuộc ấp B, xã P, huyện T thì H dừng xe lại, xuống xe dùng tay bẻ gãy biển số xe 63B8 – 535.82 ném xuống kênh cặp đường đê, sau đó mở cốp xe ra kiểm tra thì phát hiện bên trong có 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Poco C40 rồi H đóng cốp xe lại. Lúc này do chị K phát hiện xe mô tô bị mất, nên trình báo Công an và lực lượng Công an xã P cùng người dân truy đuổi, phát hiện bắt giữ người phạm tội quả tang cùng vật chứng.Tại kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐG ngày 05/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 xe mô tô màu đỏ đen, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, biển số 63B8 – 535.82 (đã qua sử dụng) có giá trị còn lại là 3.300.000 đồng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Poco C40 (đã qua sử dụng) có giá trị còn lại là 1.100.000 đồng; 01 sim điện thoại có giá trị còn lại là 50.000 đồng. Tổng cộng là 4.450.000 đồng.Tại Cáo trạng số 20/CT-VKSTPĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Huỳnh Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng; qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án.
  • - Về vật chứng: 01 xe mô tô màu đỏ đen, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, biển số 63B8 – 535.82; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Poco C40 và 01 sim điện thoại, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho

- 3 -

chủ sở hữu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

  • - Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại Phạm Thị Mỹ K yêu cầu bị cáo bồi thường tiền sửa xe 200.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong, tại phiên tòa, người bị hại không có yêu cầu gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo thống nhất với Cáo trạng, bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, về hình phạt, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự.

Bị cáo có lời nói sau cùng: bị cáo biết bản thân đã vi phạm pháp luật, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị hại Phạm Thị Mỹ K có đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền, nghĩa vụ liên quan Ngô Thành T và người làm chứng Phan Văn N, Huỳnh Văn T1 vắng mặt không lý do mặc dù được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa. Xét thấy, việc vắng mặt người bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử và bị cáo đồng ý tiếp tục xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

[3] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Văn H đã khai nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có cơ sở xác định: Vào khoảng 08 giờ 45 phút ngày 03/8/2024, bị cáo Huỳnh Văn H đã lén lút lấy trộm 01 xe mô tô hai bánh hiệu Yamaha loại Sirius màu sơn đỏ đen biển số 63B8 – 535.82 của chị Phạm Thị Mỹ K đang dựng tại đường đan thuộc ấp T, xã P, huyện T bên trong cốp xe có 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Poco C40 và 01 sim điện thoại; và đang trên đường tẩu thoát thì bị phát hiện. Tài sản chiếm đoạt có tổng giá trị là 4.450.000 đồng.

- 4 -

Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì “ Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo Huỳnh Văn H như phân tích trên, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông đã truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ: Hành vi của bị cáo có tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm bất hợp pháp đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi tại thời điểm gây án, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc, nhưng chỉ vì muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để sử dụng mà không phải bỏ công sức lao động nên bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện tội phạm. Do đó, xét cần có mức án nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

[5] Về đồng phạm: Xác định trong vụ án này bị cáo thực hiện tội phạm một mình, không có đồng phạm.

[6] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự;
  • - Tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
  • - Tình tiết giảm nhẹ: xét thấy bị cáo mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện khắc phục, bồi thường thiệt hại cho chị K; và chị K cũng có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; nên xét không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà chỉ cần cho hưởng án treo, giao bị cáo về chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân lương thiện và đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Tại giai đoạn điều tra, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường tiền sửa xe theo yêu cầu của bị hại là 200.000 đồng, bị hại đã nhận xong và nay không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về vật chứng:

- 5 -

01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Poco C40 và 01 sim điện thoại là tài sản hợp pháp của người bị hại Phạm Thị Mỹ K; 01 xe mô tô bị trộm cắp biển số 63B8 – 535.82 là tài sản hợp pháp của bị hại Phạm Thị Mỹ K do chồng chị K là anh Ngô Thành T đứng tên; cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu xong, chị K và anh T không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Lời luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và hướng giải quyết về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, Hội đồng xét xử có xem xét khi quyết định.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Do nhận định bị cáo có tội, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. 2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 65; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao;

    Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Huỳnh Văn H cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. 3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Huỳnh Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. 4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án; đối với người vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

- 6 -

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Tân Phú Đông;
  • - CC.THADS huyện Tân Phú Đông;
  • - CQĐT Công an huyện Tân Phú Đông;
  • - Bộ phận Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo, bị hại,
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Minh Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 20/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger