|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 20/2024/HS-ST Ngày 20-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Như Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hội và bà Lò Thị Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Thiết, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nghĩa, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 25/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Mùa A S, sinh năm 1983, tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
Nơi cư trú: Bản T 1, xã C, huyện M, tỉnh S.
Nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Mùa A C ( Đã chết); con bà Tráng Thị M;
Bị cáo có vợ là Thào Thị C, có 01 con.
Tiền án: Không:
Nhân thân:
Tiền sự: Ngày 04/4/2024 bị Hạt kiểm lâm huyện Mộc Châu xử phạt hành chính về hành vi Vận chuyển lâm sản trái phép bằng hình thức phạt tiền 15.000.000đ, đã chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính ngày 09/5/2024 (chưa được xóa án tiền sự).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Mộc Châu từ ngày 07/9/2024 đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Mùa A D, sinh năm 1979, trú tại bản Tà Số 1, xã Chiềng Hắc, huyện Mộc Châu, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 19/8/2024 tổ công tác Công an huyện Mộc châu phối hợp với các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ tại tiểu khu 14, thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, kiểm tra xe ô tô nhãn hiệu "TOYOTA HIACE" màu xám, BKS: 25B-001.56 do Mùa A S điều khiển đang vận chuyển lâm sản trái phép gồm nhiều gỗ gốc, rễ, cành có kích thước và hình dạng khác nhau. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, tạm giữ toàn bộ tang vật gồm 01 (Một) xe ô tô nhãn hiệu "TOYOTA HIACE" màu xám, BKS: 25B-001.56 cùng toàn bộ số lâm sản để xác minh làm rõ.
Căn cứ vào kết quả xác minh, xác định ngày 04/4/2024 Mùa A S đã bị Hạt kiểm lâm huyện Mộc Châu xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép.
Ngày 19/8/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu tiến hành cân số gỗ được 1.900kg.
Ngày 21/8/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu quyết định trưng cầu giám định số 1207 ngày 21/8/2024: Trưng cầu đối với toàn bộ lâm sản gồm nhiều gỗ gốc, rễ. Thuộc nhóm nào, có tổng khối lượng gỗ quy tròn m3. Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực lâm nghiệp số 01 ngày 22/8/2024 của Chi cục kiểm Lâm Sơn La Hạt kiểm lâm Mộc Châu kết luận: Toàn bộ số gỗ có hình dạng củi, gốc, rễ, cành ghi có khối lượng 1.900kg, có tên gỗ Bách Xanh, tên khoa học Calocedrus macrolepis là gỗ thuộc Dnh mục loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIa. Khối lượng gỗ bách xanh sử dụng cân xác định được khối lượng 1.900kg quy đổi bằng 1,9m³.
Ngày 19/8/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu yêu cầu định giá tài sản đối với số củi, gốc, rễ, cành có tên loại gỗ Bách Xanh. Tại kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản huyện Mộc Châu kết luận toàn bộ số củi, gốc, rễ, cành có tên loại gỗ Bách Xanh có giá trị 4.750.000 đồng.
Quá trình điều tra Mùa A S khai nhận: Mùa A S sinh sống cùng bản với Mùa A D, sinh năm 1979, trú tại bản Tà Số 1, xã Chiềng Hắc, huyện Mộc Châu, nên quen biết nhau, khoảng 8 giờ ngày 19/8/2024 D thuê S vận chuyển khoảng 900kg củi Bách xanh xuống địa phận huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La để bán và sẽ trả công cho S số tiền 700.000₫, S đồng ý và điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Hiace, biển kiểm soát 25B-001.56 của S đến nhà Mùa A D bốc số củi, gỗ Bách xanh tại kho của gia đình D. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày S điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 25B-001.56 chở củi gỗ Bách xanh di chuyển từ bản Tà Số 1, xã Chiềng Hắc đến địa phận huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, khi đang trên đường QL 6 thuộc tiểu khu 14, thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La thì gặp tổ Công tác Công an huyện Mộc Châu phát hiện, lập biên biên bản vi phạm.
Đối với xe ô tô 25B-001.56 Mùa A S mua lại của Hà Văn Hạnh, sinh năm 1999, nơi cư trú: Bản Tà Số 2, xã Chiềng Hắc, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành xác minh, xác định xe ô tô khách nhãn hiệu Toyota Hiace do bị can Mùa A S điều khiển vào ngày 19/8/2024 có số máy: 1RZ2495235; số khung: RZH1149007182 trùng khớp với chiếc xe ô tô khách, nhãn hiệu Toyota Hiace, biển kiểm soát 80A – 022.21, ngày đăng ký 30/10/2014, chủ xe: Cục quản trị - Tổng cục IV – Bộ Công an (nay là Cục Hậu cần), có địa chỉ tại 80, Trần Quốc Hoàn, Thành Phố Hà Nội. Tuy nhiên do xe đã hết niên hạn sử dụng và thanh lý vào tháng 01/2020, đã thu hồi biển số và giấy tờ đăng ký, đăng kiểm.
Đối với biển kiểm soát 25B – 001.56, kết quả xác minh xác định được chủ xe là Công ty TNHH Thắng Sang, có địa chỉ: tổ 6, phường Đoàn Kết, Thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu, ngày đăng ký 06/8/2019, đăng ký có giá trị đến 31/12/2023, phương tiện là 01 chiếc xe ô tô khách, nhãn hiệu Toyota, số máy: 2RZ3144068, số khung: RZH115300134.
Ngày 25/10/2024 cơ quan CSĐT Công an huyện Mộc Châu ra Quyết định trưng cầu giám định đối với 01 chiếc xe ô tô khách nhãn hiệu Toyota Hiace, màu xám, biển kiểm soát 25B – 001.56, ghế ngồi khoang hành khách phía sau đã bị tháo, xác định số máy 2495235; số khung RZH1149007182 và biển kiểm soát 25B – 001.56 tạm giữ của Mùa A S.
Tại Kết luận giám định số: 1977/KL-KTHS, ngày 28 tháng 10 năm 2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
- “02 (hai) biển kiểm soát xe ô tô có nội dung 25B – 001.56 là biển kiểm soát giả”.
Tại Kết luận giám định số: 1978/KL-KTHS, ngày 28 tháng 10 năm 2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
- “Số máy 2495235 trên chiếc xe ô tô gửi giám định là số nguyên thủy”.
- “Số khung RZH1149007182 trên chiếc xe ô tô gửi giám định là số đã bị đục lại, Không xác định được số khung nguyên thủy”.
Về nguồn gốc số lâm sản Mùa A D khai nhận do D khai thác trong rừng về, thuê Mùa A S vận chuyển mang đi bán kiếm lời. Ngày 01/1/2024 Hạt kiểm lâm Mộc Châu đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC đối với Mùa A D về hành vi Mua bán lâm sản trái phép.
Đối với hành vi điều khiển xe ô tô không có Giấy phép lái xe, điều khiển xe quá niên hạn sử dụng tham gia giao thông. Điều khiển xe gắn biển không phải do cơ quan có thẩm quyền cấp của Mùa A S, ngày 01/11/2024 Công an huyện Mộc Châu đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Bản cáo trạng số 195/CT-VKS ngày 06/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Mùa A S về tội “ Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mùa A S phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
- Căn cứ điểm m khoản 1 Điều 232, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
- Ghi nhận việc Hạt kiểm lâm huyện Mộc Châu đã ra Quyết định xử lý hành chính số 02/QĐ-XPHC đối với Mùa A D về hành vi Mua bán lâm sản trái phép.
- Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo có ý kiến đề nghị xin được miễn án phí, do đó cần xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Mùa A S từ 12 tháng đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 1,900m² gỗ, gốc rễ cây Bách xanh.
Tịch thu nộp ngân sánh Nhà nước của bị cáo 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Hiace, màu xám “Số máy 2495235 trên chiếc xe ô tô gửi giám định là số nguyên thủy”. Số khung RZH1149007182 trên chiếc xe ô tô gửi giám định là số đã bị đục lại, Không xác định được số khung nguyên thủy”.
Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) biển kiểm soát xe ô tô 25B – 001.56 là biển kiểm soát giả.
Ghi nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Giao thông đường bộ và đường sắt đối với Mùa A S về hành vi: Điều khiển xe ô tô không có giấy phép lái xe; Điều khiển xe quá niên hạn sử dụng tham gia giao thông; Điều khiển xe gắn biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Mùa A D không có ý kiến gì với quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Hạt kiểm lâm huyện Mộc Châu.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tổ tụng, người tiến hành tố tụng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu kiện về quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi và trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Ngày 04/4/2024 bị cáo đã bị Hạt kiểm lâm huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt hành chính về hành vi Vận chuyển lâm sản trái phép bằng hình thức phạt tiền (chưa được xóa án tiền sự).
Ngày 19/8/2022, Mùa A S tiếp tục có hành vi vận chuyển trái phép 1,9m³ gỗ Bách Xanh (thuộc Dnh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA).
Căn cứ khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự quy định như sau.
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 243 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
k) Tàng trữ, vận chuyển, chế biến hoặc mua bán trái phép từ 1,5 mét khối (m3) đến dưới 03 mét khối (m3) gỗ thuộc Dnh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Dnh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA hoặc gỗ có nguồn gốc từ nước ngoài thuộc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; từ 10 mét khối (m3) đến dưới 20 mét khối (m3) gỗ thuộc Dnh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA hoặc gỗ có nguồn gốc từ nước ngoài thuộc Phụ lục II Công Ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; từ 20 mét khối (m3) đến dưới 40 mét khối (m3) gỗ loài thực vật rừng thông thường;
m) Khai thác, tàng trữ, vận chuyển, chế biến hoặc mua bán trái phép gỗ hoặc thực vật rừng ngoài gỗ có khối lượng hoặc trị giá dưới mức quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm 1 khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Do bị cáo đã bị Hạt kiểm lâm huyện Mộc Châu xử phạt hành chính về hành vi Vận chuyển lâm sản trái phép bằng hình thức phạt tiền vào ngày 04/4/2024 (chưa được xóa án tiền sự) lại tiếp tục có hành vi vi phạm, đây là điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự bị cáo về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm m khoản Điều 232 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng đã thu giữ, biên bản cân xác định khối lượng, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù bị cáo không trực tiếp khai thác đào bới làm làm ảnh hưởng đến tài nguyên rừng, nhưng bị cáo đã tiếp tay xâm phạm chế độ quản lý bảo vệ rừng của Nhà nước. Do đó cần phải có hình phạt nghiêm khắc với bị cáo, vừa để răn đe bị cáo và để giáo dục ngăn ngừa, phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo được gia đình, chính quyền địa phương có đơn xin bảo lãnh cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo điểm khoản 2 Điều 51 BLHS, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ và bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Với các phân tích nhận định nêu trên xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian, mà áp dụng hình phạt tù, cho hưởng án treo giao bị cáo về cho gia đình, chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý, giám sát giáo dục cũng có thể cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội về sau.
[5] Về hình phạt bổ sung: Với hành vi phạm tội của bị cáo, lẽ ra cần phải phạt bị cáo một khoản tiền nhất định, tuy nhiên quá trình xác minh thấy rằng gia đình bị cáo không có tài sản gì có giá trị, không có khả năng thi hành nên không áp dụng.
[6] Về vật chứng của vụ án. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đối với số gỗ 1,900m² gỗ, gốc rễ cây Bách xanh, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Hiace, màu xám “Số máy 2495235 trên chiếc xe ô tô gửi giám định là số nguyên thủy”. Số khung RZH1149007182 trên chiếc xe ô tô gửi giám định là số đã bị đục lại, Không xác định được số khung nguyên thủy”. Chiếc xe là tài sản hợp pháp của bị cáo, bị cáo đã dùng làm phương tiện phạm tội, hơn nữa do chiếc xe đã hết niên hạn sử dụng, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 02 (hai) biển kiểm soát xe ô tô 25B – 001.56, kết quả giám định là biển kiểm soát giả, cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với việc Hạt kiểm lâm huyện Mộc Châu đã ra Quyết định xử lý hành chính số 02/QĐ-XPHC đối với Mùa A D về hành vi Mua bán lâm sản trái phép. Là đúng pháp luật cần ghi nhận.
Đối với việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã ra Quyết định xử phạt với Mùa A S về vi phạm hành chính trong lĩnh vực Giao thông đường bộ và đường sắt, về hành vi: Điều khiển xe ô tô không có giấy phép lái xe; Điều khiển xe quá niên hạn sử dụng tham gia giao thông; điều khiển xe gắn biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp. Là đúng pháp luật cần ghi nhận.
Do bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác nên căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên trả tự do cho bị cáo Mùa A S ngay tại phiên tòa.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo có ý kiến đề nghị xin được miễn án phí, do đó cần xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Mùa A S phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
- Căn cứ điểm m khoản 1 Điều 232, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:
- Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Ghi nhận việc Hạt kiểm lâm huyện Mộc Châu đã ra Quyết định xử lý hành chính số 02/QĐ-XPHC đối với Mùa A D về hành vi Mua bán lâm sản trái phép.
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử phạt bị cáo Mùa A S 15 (Mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi tháng).
Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án 20/11/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Tuyên trả tự do cho bị cáo Mùa A S ngay tại phiên tòa.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 1,900m² gỗ, gốc rế cây Bách xanh.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước của bị cáo 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Hiace, màu xám “Số máy 2495235 trên chiếc xe ô tô gửi giám định là số nguyên thủy”. Số khung RZH1149007182 trên chiếc xe ô tô gửi giám định là số đã bị đục lại, Không xác định được số khung nguyên thủy”.
Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) biển kiểm soát xe ô tô 25B – 001.56 là biển kiểm soát giả.
Ghi nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Giao thông đường bộ và đường sắt đối với Mùa A S về hành vi: Điều khiển xe ô tô không có giấy phép lái xe; Điều khiển xe quá niên hạn sử dụng tham gia giao thông; Điều khiển xe gắn biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Chiềng Hắc, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp cùng với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Đỗ Như Khánh |
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ...........
