|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2024/HS-ST Ngày: 18/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: |
Bà Nguyễn Thị Nga |
Các hội thẩm nhân dân: |
1. Ông Nguyễn Hồng Vân 2. Bà Nguyễn Thị Loan |
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Tú - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Tạ Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2024/HSST ngày 25 tháng 10 năm 2024 theo “Quyết định đưa vụ án ra xét xử” số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với:
Bị cáo Đỗ Quốc T; Sinh năm 1982; CCCD [...]; Giới tính: Nam; Nơi ĐK thường trú và nơi ở hiện tại: 1 N, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: LĐTD; Con ông Đỗ Ngọc C, sinh năm: 1947; Và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1950; Vợ Hà Thị M, sinh năm 1991 (Đã ly hôn) có một con sinh năm 2014; Tiền sự: Không.
Tiền án:
- + Tại bản án số 300/2014/HSST ngày 30/10/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 12/5/2015
- + Tại bản án số 09/2017/HSST ngày 31/8/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm tài sản (bản án áp dụng tình tiết “Tái phạm”);
- + Tại bản án số 248/2017/HSST ngày 27/9/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt ngày 24/9/2019.
Nhân thân:
- + Bản án số 10 ngày 04/4/2001 Bị tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cướp giật tài sản”.
- + Bản án số 92/HSST ngày 16/7/2002 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với 15 tháng tù (cho hưởng án treo) của bản án số 10 ngày 04/4/2001 của TAND huyện Hoằng Hóa, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 30 tháng tù.
- + Bản án số 200/2006/HSST ngày 17/8/2006 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Bản án số 18/2013/HSST ngày 30/01/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Bản án số 41/2020/HSST ngày 24/11/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- + Ngày 19/3/2012 bị Công an thành phố T xử lý phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm trộm tài sản".
- + Ngày 12/4/2014 bị Công an phường Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị cáo hiện đang chấp hành hình phạt tù của bản án số 41/2020/HSST ngày 24/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa tại Trại giam S Bộ C1 từ ngày 17/3/2021
Người bị hại: Chị Lại Thị P, sinh năm 1990
Trú tại: S T, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
(Tại phiên tòa bị cáo, người bị hại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 ngày 28/8/2020, Đỗ Quốc T đi xe đạp xung quanh khu vực thành phố T nhắm mục đích tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khi đến trước nhà chị Lại Thị P, sinh năm 1990 (Trú tại: số A T, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa) quan sát thấy cửa nhà không khóa, không có người trông coi, T đã lẻn vào trong nhà lấy trộm một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen của chị P rồi nhanh chóng tẩu thoát. Sau đó T mang chiếc điện thoại đến bán cho một cửa hàng mua bán điện thoại di động trên địa bàn thành phố T lấy số tiền 1.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
Cùng ngày, chị Lại Thị P1 đã đến công an phường B báo cáo sự việc. Ngày 23/10/2020 Cơ quan CSĐT Công an T có QĐ khởi tố vụ án; Ngày 25/02/2021 Cơ quan CSĐT Công an T có QĐ tạm đình chỉ điều tra vụ án do “Thời hạn điều tra đã hết, chưa xác định được đối tượng gây án”; Ngày 13/7/2023 Cơ quan CSĐT Công an T có QĐ phục hồi điều tra vụ án; Ngày 15/10/2023 Cơ quan CSĐT Công an T có QĐ tạm đình chỉ điều tra vụ án do “Thời hạn điều tra đã hết, chưa xác định được đối tượng gây án”; Ngày 16/8/2024 Cơ quan CSĐT Công an T có QĐ phục hồi điều tra vụ án; Ngày 05//2024 quyết định khởi tố bị can đối với Đỗ Quốc T.
Quá trình điều tra Đỗ Quốc T thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại Kết luận định giá tài sản số 273/KL-HĐ ĐGTS ngày 07/10/2020 kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7 Plus, màu đen dung lượng 64Gb trị giá 5.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Lại Thị P1 không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 314/CTr-VKS ngày 24 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Đỗ Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55, 56 - BLHS; Tuyên bố bị cáo Đỗ Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt Đỗ Quốc T từ 30 đến 36 tháng tù, tổng hợp với hình phạt 06 năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số 41/2020/HS-ST ngày 24/11/2020, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung; Về dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xét; Án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.
Bị cáo Đỗ Quốc T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt vì lý do sức khỏe không thể tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Khoảng 19 giờ ngày 28/8/2020, tại nhà chị Lại Thị P (Số A T, phường B, thành phố T) Đỗ Quốc T đã có hành vi lợi dụng sơ hở của chị Lại Thị P trong việc quản lý tài sản, lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7 Plus trị giá 5.000.000 đồng của chị P, sau đó mang đi bán lấy số tiền 1.000.000 đồng, chi tiêu cá nhân hết.
Bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
HĐXX đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Đỗ Quốc T đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo theo điểm g khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội đúng pháp luật.
[2] Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất nghiêm trọng; Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chị P trong việc quản lý tài sản, lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone 7 Plus trị giá 5.000.000đ của chị P. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật; Gây mất trật tự trị an trong khu vực, thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo.
[3] Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự; Bị cáo “Tái phạm nguy hiểm” song tình tiết này đã được sử dụng định khung hình phạt nên không coi là tình tiết tăng nặng; Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị kết án nhưng không sửa chữa lỗi lầm mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, HĐXX xem xét có hình phạt phù hợp, đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa và sự khoan hồng của pháp luật; Song cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian đề, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích.
[4] Về tổng hợp hình phạt: Bị cáo hiện đang chấp hành hình phạt 06 năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số 41/2020/HS-ST ngày 24/11/2020, do đó HĐXX tổng hợp với hình phạt của bản án này, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án. Theo quy định tại Điều 55, 56 BLHS.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về dân sự nên HĐXX không xét.
[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Là hợp pháp.
[7] Về việc vắng mặt bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt vì lý do sức khỏe, không thể tham gia phiên tòa. Kèm theo đơn xin vắng mặt bị cáo cung cấp “Giấy chứng nhận” của Bệnh viện P2 chứng nhận bị cáo đang điệu trị bệnh: Lao màng não, U não, HIV tại bệnh viện P2. HĐXX căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 - Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị cáo.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1, 3 điều 21; khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55, 56 của Bộ luật hình sự; Điểm c khoản 2 Điều 290 - Bộ luật Tố tụng hình sự
- - Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- - Xử phạt: Bị cáo Đỗ Quốc T 27 (Hai bảy) tháng tù, Tổng hợp với hình phạt 06 (sáu) năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số 41/2020/HS-ST ngày 24/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/3/2021.
- - Về dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xét.
- - Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1, 3 điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
- - Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đỗ Quốc T, người bị hại Lại Thị P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Quốc T Trộm cắp TS
