TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2024/HNGĐ-PT Ngày 12-11-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Thúy Hà
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Vân Thúy
Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thu Huệ - Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 23/2024/TLPT-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
Do Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 23/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Dương Sỹ L, sinh năm 1970; nơi cư trú: Số D Chợ H, phường D, Quận L, thành phố Hải Phòng, có mặt;
- Bị đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1974; nơi đăng ký thường trú: Số D Chợ H, phường D, Quận L, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Chùa K, số E Miếu H, phường D, Quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người kháng cáo: Bà Phạm Thị T là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 15/5/2024 và các lời khai của nguyên đơn là ông Dương Sỹ L trình bày :
Ông Dương Sỹ L và bà Phạm Thị T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình đồng ý tổ chức hỏi cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, Quận L, thành phố Hải Phòng vào năm 2010. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn căng thẳng do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra xô xát, cãi vã. Bà T là người không biết vun vén cho gia đình, gây rối, chửi bới gia đình ông L. Chính quyền địa phương đã nhiều lần lập biên bản về mâu thuẫn trong gia đình ông L do các bên đánh cãi chửi nhau gây mất trật tự an ninh khu phố. Hiện nay vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm nhau về mọi mặt. Bà T trình bày đang sinh sống tại số nhà D Chợ H, Dư H, L, Hải Phòng nhưng thực tế bà không ăn ở sinh hoạt ở địa chỉ này nữa. Năm 2022 ông L đã làm đơn ly hôn bà T nhưng bà T gây rất nhiều khó khăn cho ông L cũng như Toà án với nhiều lý do vô lý và có đơn từ gửi nhiều nơi như B, Đài truyền hình H1. Theo ông L, bà T cho rằng còn tình cảm với ông nhưng thực tế bà T bực tức vì mẹ ông sang tên căn nhà số D Chợ Hàng cho em gái ông L vì đây là tài sản của mẹ ông L, việc cho ai là quyền của cụ. Sau đó ông L phải rút đơn để cho bà T thêm cơ hội, nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thể hàn gắn được, ngày càng trầm trọng hơn. Bà T là người có suy nghĩ không ổn định, thường xuyên thay đổi. Ngoài ra còn có biểu hiện mê tín dị đoan, bói toán, tự ý thay đổi việc thờ cúng trong gia đình ông L. Nay ông L xác định tình cảm vợ chồng đã hết, mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ, đề nghị Tòa án sớm đưa vụ án ra xét xử, giải quyết cho ông ly hôn bà T để giải phóng cho ông.
Về con chung: Ông L và bà T có 01 con chung là Dương Anh T1, sinh ngày 18/8/2011. Ông L đề nghị Tòa án giao con chung cho ông trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông L và bà T không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn bà Phạm Thị T trình bày:
Từ khi chung sống với ông L, bà là người phụ nữ vì gia đình, không làm điều gì có lỗi. Mâu thuẫn vợ chồng xảy ra từ năm 2022, hai bên thường xuyên đánh cãi chửi nhau, ông L và gia đình đánh đuổi bà ra khỏi nhà. Việc ông Lâm cư X với bà như vậy là do ông L bị gia đình xúi bẩy gồm cả mẹ chồng, anh chồng, em chồng. Hiện nay ông L đang mắc nhiều bệnh tật, ốm đau nên tinh thần không ổn định, càng dễ bị kích động. Bà không đồng ý ly hôn vì còn tình cảm với ông L. Nhưng nếu ông L cương quyết xin ly hôn thì bà cũng đồng ý nhưng với điều kiện ông L phải mua cho bà một căn nhà để cho bà và con gái ổn định chỗ ăn chỗ ở. Nếu ông không lo được chỗ ăn ở cho mẹ con bà thì bà không đồng ý ly hôn. Bà T không gây rối, mất trật tự, không chửi bới mẹ chồng như lời ông L nói. Những lời trình bày của ông L là không đúng sự thật.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Dương Anh T1, sinh ngày 18/8/2011. Quan điểm của bà T nếu ông L không lo cho bà chỗ ăn ở thì bà không đồng ý giao con cho ông.
Về tài sản chung: Vợ chồng có tài sản chung là tất cả tài sản hiện tại gồm những đồ sinh hoạt trong gia đình và dàn máy may, những tài sản này đều dành cho con gái. Bà T không yêu cầu chia tài sản chung.
Tại Biên bản xác minh tại địa phương cho thấy: Quá trình chung sống, ông L và bà T xảy ra nhiều mâu thuẫn gây mất trật tự an ninh khu phố; bà T nhiều lần chửi bới, xúc phạm ông L và gia đình ông L. Tổ dân phố và C1 đã nhiều lần phải đến giải quyết, hoà giải mâu thuẫn giữa ông L và bà T.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Dương Sỹ L được ly hôn bà Phạm Thị Tuyết .
- Về con chung: Giao con chung là Dương Anh T1, sinh ngày 18/8/2011 cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con thành niên hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thoả thuận.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 16/9/2024, bà Phạm Thị T kháng cáo, không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm cho vợ chồng bà được đoàn tụ.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và trình bày, hiện nay ông không còn tình cảm với bà T, nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho ông bà được ly hôn.
Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Việc ông L kiên quyết xin ly hôn bà là do nghe theo lời mẹ chồng và anh chị em bên chồng, giữa ông bà không có mâu thuẫn gì lớn. Trường hợp ly hôn thì bà đồng ý giao con chung cho ông L chăm sóc nuôi dưỡng, do hiện nay bà không có chỗ ở ổn định, công việc thu nhập bấp bênh, không đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dậy con chung.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng:
Từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng cáo:
Mâu thuẫn giữa bà Phạm Thị T và ông Dương Sỹ L đã kéo dài nhiều năm. Tòa án sơ thẩm xử cho ông L được ly hôn với bà T là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Về con chung: Hiện con chung đang do ông L chăm sóc, nuôi dưỡng, con chung có nguyện vọng ở với bố, Tòa án cấp sơ thẩm giao con chung cho ông L chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị T, giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 10/9/2024 của Toà án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn kháng cáo. Xét kháng cáo của bị đơn trong thời hạn luật định, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng thụ lý xét xử phúc thẩm vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung:
[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của hai bên đương sự và tài liệu xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm, xác định: Mâu thuẫn giữa ông Dương Sỹ L và bà Phạm Thị T kéo dài nhiều năm. Ông L và bà T thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát, ngoài ra, bà T còn mâu thuẫn với cả mẹ và các anh chị em trong gia đình ông L gây mất an ninh trật tự khu phố, nhiều lần chính quyền địa phương phải can thiệp hoà giải. Năm 2022, ông L đã có đơn xin ly hôn bà T, sau đó ông L rút đơn để vợ chồng có cơ hội hàn gắn, song mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Hiện nay ông bà đã sống ly thân. Từ sau khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết, bà T mong muốn đoàn tụ với ông L, song cũng không có biện pháp cụ thể hàn gắn quan hệ vợ chồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông L vẫn giữ quan điểm kiên quyết xin ly hôn, không đồng ý hàn gắn với bà T. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông L vi phạm nghĩa vụ vợ chồng theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình, mâu thuẫn giữa ông L và bà T đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết cho ông L và bà T được ly hôn là có căn cứ, phù hợp với thực tế quan hệ hôn nhân của hai bên, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: Ông Dương Sỹ L và bà Phạm Thị T có một con chung là Dương Anh T1, sinh ngày 18/8/2011. Cháu T1 có nguyện vọng được ở với bố. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T trình bày, hiện nay bà không có chỗ ở và công việc ổn định, phải đi ở nhờ mỗi nhà một thời gian, trường hợp phải ly hôn thì bà đồng ý giao con cho ông L nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu T1 hiện đang ở với ông L tại số nhà D Chùa H và đang học ở trường gần nhà, ông L vẫn đảm bảo điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Để đảm bảo sự ổn định trong học tập và sinh hoạt hàng ngày của con chung, Tòa án cấp sơ thẩm giao cháu Dương Anh T1 cho ông L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con, hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Ông L, bà T không yêu cầu giải quyết nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết là có căn cứ.
[5] Từ các nhận định trên, không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị T, giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
[6] Về án phí phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị T không được chấp nhận nên bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 148, khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 15, điểm a khoản 5 Điều 27, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị T: Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Dương Sỹ L được ly hôn bà Phạm Thị Tuyết .
- Về con chung: Giao con chung là Dương Anh T1, sinh ngày 18/8/2011 cho ông Dương Sỹ L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con thành niên hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thoả thuận.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Ông Dương Sỹ L và bà Phạm Thị T không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm: Bà Phạm Thị Tuyết C 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003431 ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Chi Cục thi hành án dân sự Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thị Thúy Hà |
Bản án số 20/2024/HNGĐ-PT ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 20/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Sỹ Lâm - Phạm Thị Tuyết ly hôn, con chung
