|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2024/DS-ST
Ngày: 08-11-2024.
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Võ Trọng Thơi.
- 2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhung.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thảo Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy (Số F đường Đ, phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 06/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần C (viết tắt là Ngân hàng TMCP C); địa chỉ trụ sở: Số A đường T, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B – Chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP C.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình T- Chức vụ: Cán bộ quản lý nợ Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh H1; Ông Dương Tuấn V – Chức vụ: Trưởng phòng tổng hợp Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh H1 (Đều có mặt).
Địa chỉ liên hệ: Số B L, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Bị đơn: Chị Lê Thị Diễm H, sinh năm 1989 và anh Lê Viết N, sinh năm 1981; cùng địa chỉ: Số A đường T, tổ I phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (Đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn Ngân hàng TMCP C trình bày:
Ngày 08/6/2021, bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N ký hợp đồng tín dụng vay vốn tại Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh H1 - Phòng G, cụ thể: Số tiền vay: 699.000.000 đồng; Thời hạn vay: Từ ngày 08/6/2021 đến ngày 08/6/2041 theo hợp đồng cho vay số LTDHUONG/2021/HĐCV/NHCT460 ngày 08/6/2021. Ngày 18/02/2022, bà Lê Thị Diễm H và ông Lê viết N ký Hợp đồng tín dụng vay vốn tại Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh H1 - Phòng G cụ thể: Số tiền vay: 500.000.000 đồng, thời hạn vay: 18/02/2022 đến ngày 18/02/2042 theo hợp đồng cho vay số LTDHUONG/2022/HĐCV/NHCT460 ngày 18/02/2022.
Để đảm bảo khoản vay trên, bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N thế chấp tài sản là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 450, tờ bản đồ số 15, diện tích: 179,5 m², tọa lạc tại Thôn D, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Hình thức sử dụng: sử dụng riêng. Mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn. Thời hạn sử dụng: Lâu dài theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 864729 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 19/05/2021, vào sổ cấp GCN: CS01784 cho ông Ngô Thanh P, chuyển nhượng cho ông Lê Viết N và bà Lê Thị Diễm H, cập nhật thay đổi lần gần nhất ngày 03/06/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Theo Hợp đồng thế chấp số LTDHUONG/2021/HĐBĐ/NHCT460 ngày 04/06/2021 và văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp bất động sản số LTDHUONG/2021/HĐBĐ/SĐBS/NHCT460 ngày 16/02/2022, đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định.
Trong quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng lần lượt số LTDHUONG/2022- HDCV/NHCT460 ngày 18/02/2022, LTDHUONG/2021- HDCV/NHCT460 ngày 08/6/2021. Phía bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N vi phạm nghĩa vụ cam kết về nghĩa vụ trả nợ vay. Ngân hàng TMCP C – chi nhánh H1 đã nhiều lần yêu cầu bên vay thực hiện các nghĩa vụ của mình nhưng đến nay các bên không thực hiện. Tính đến ngày 08/11/2024, bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N còn nợ Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh H1 tổng số tiền là: 1.412.159.857 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1.126.000.000 đồng và nợ lãi: 286.159.857 đồng. Ngân hàng TMCP C yêu cầu Toà án xem xét giải quyết các nội dung sau: Buộc bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh H1 tổng số tiền vay tính đến ngày 08/11/2024 là: 1.412.159.857 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1.126.000.000 đồng và nợ lãi: 286.159.857 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 09/11/2024 cho đến khi tất toán khoản nợ vay. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N không trả nợ, Ngân hàng TMCP C được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án kê biên, xử lý tài sản đảm bảo đề nghị xử lý tài sản thế chấp để thu hồi vay. Trường hợp sau khi xử lý hết các tài sản thế chấp mà vẫn không thu đủ nợ, Ngân hàng TMCP C có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền cưỡng chế, kê biên phát mại các tài sản khác của bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N để thu hồi toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 19/9/2024 thể hiện:
Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 450, tờ bản đồ số 15, diện tích: 179,5 m², tọa lạc tại Thôn D, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Hình thức sử dụng: sử dụng riêng. Mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn. Thời hạn sử dụng: Lâu dài theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 864729 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 19/05/2021, vào sổ cấp GCN: CS01784 cho ông Ngô Thanh P, chuyển nhượng cho ông Lê Viết N và bà Lê Thị Diễm H, cập nhật thay đổi lần gần nhất ngày 03/06/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ trên thửa đất không có tài sản gì. Kể từ khi ký kết hợp đồng thế chấp đến thời điểm hiện tại, hiện trạng sử dụng đất không có gì thay đổi.
Bị đơn bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng quá thời hạn quy định bà H và ông N vẫn không nộp hoặc gửi văn bản ghi ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Toà án đã niêm yết công khai theo quy định pháp luật Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần, nhưng bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N đều vắng mặt. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định pháp luật. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt là vi phạm Điều 70; Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N phải trả cho Ngân hàng TMCP C tổng số tiền tính đến ngày 08/11/2024 là: 1.412.159.857 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1.126.000.000 đồng và nợ lãi: 286.159.857 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 09/11/2024 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vay; buộc bà H, ông N chịu toàn bộ án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồng đã ký. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại địa bàn thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đương sự là người Việt Nam, pháp nhân Việt Nam và không có ai đang ở nước ngoài. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng tín dụng và thế chấp tài sản, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn là bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N đã được triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng tại phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Ngân hàng TMCP C khởi kiện, tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N, có nơi cư trú tại: Số A đường T, tổ I, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.
[2] Về hợp đồng tín dụng: Các tài liệu, chứng cứ và lời khai của Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có cơ sở xác định: Ngày 08/6/2021, bị đơn là bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N ký hợp đồng tín dụng vay vốn tại Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh H1 - Phòng G, cụ thể: Số tiền vay: 699.000.000 đồng; Thời hạn vay: Từ ngày 08/6/2021 đến ngày 08/6/2041 theo hợp đồng cho vay số LTDHUONG/2021/HĐCV/NHCT460 ngày 08/6/2021. Ngày 18/02/2022, bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N ký Hợp đồng tín dụng vay vốn tại Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh H1 - Phòng G cụ thể: Số tiền vay: 500.000.000 đồng, thời hạn vay: 18/02/2022 đến ngày 18/02/2042 theo hợp đồng cho vay số LTDHUONG/2022/HĐCV/NHCT460 ngày 18/02/2022. Xét chủ thể, nội dung, hình thức các hợp đồng tín dụng và đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 117, 385, 398 và 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 nên có hiệu lực buộc các bên thực hiện.
[3] Về số tiền nợ gốc và nợ lãi:
-Về số tiền nợ gốc: Hợp đồng cho vay số LTDHUONG/2021/HĐCV/NHCT460 ngày 08/6/2021 số tiền cho vay là 699.000.000 đồng. Thời hạn vay: Từ ngày 08/6/2021 đến ngày 08/6/2041. Số tiền này đã được gải ngân theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 08/06/2021.
Hợp đồng cho vay số LTDHUONG/2022/HĐCV/NHCT460 ngày 18/02/2022 số tiền cho vay là 500.000.000 đồng. Thời hạn vay: Từ ngày 08/6/2021 đến ngày 08/6/2041. Số tiền này đã được gải ngân theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 18/02/2022.
Bà H và ông N vắng mặt trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa là từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh. Do đó có cơ sở xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền nợ gốc gồm:
- Hợp đồng cho vay số LTDHUONG/2021/HĐCV/NHCT460 ngày 08/6/2021 là 646.800.000 đồng.
- Hợp đồng cho vay số LTDHUONG/2022/HĐCV/NHCT460 ngày 18/02/2022 là 479.200.000 đồng.
Tổng cộng nợ gốc theo hai hợp đồng cho vay là: 1.126.000.000 đồng.
-Về tiền lãi: Tại Điều 2 của Hợp đồng cho vay số LTDHUONG/2021/HĐCV/NHCT460 ngày 08/6/2021 và giấy nhận nợ ngày 08/6/2021; Tại Điều 2 của Hợp đồng cho vay số LTDHUONG/2022/HĐCV/NHCT460 ngày 18/02/2022 và giấy nhận nợ ngày 18/02/2022, hai bên thỏa thuận lãi suất của 12 tháng đầu kể từ ngày giải ngân là 7,5%/năm. Hết thời hạn ưu đãi, lãi suất các kỳ tính lãi tiếp theo được xác định trên cơ sở nguyên tắc lãi suất cho vay thả nổi trong hạn theo quy định cụ thể là lãi suất thả nổi bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm VND kỳ hạn 48 tháng trả lãi cuối kỳ niêm yết tại bên cho vay vào ngày xác định lãi suất cộng chi phí vốn tăng thêm cộng biên độ lãi suất 4,5%/năm.
Xét mức lãi suất thỏa thuận là tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Căn cứ về quy định về tính lãi suất tại Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàn; các điều khoản thỏa thuận về phương pháp tính lãi, kỳ tính lãi trong các hợp đồng cho vay, bên vay còn nợ lãi tính đến ngày 08/11/2024 gồm:
- Hợp đồng cho vay số LTDHUONG/2021/HĐCV/NHCT460 ngày 08/6/2021 nợ lãi trong hạn chưa trả: 147.769.728 đồng, lãi đối với dư nợ gốc bị quá hạn: 3.554.226 đồng, lãi phạt chậm trả: 15.194.539 đồng.
- Hợp đồng cho vay số LTDHUONG/2022/HĐCV/NHCT460 ngày 18/02/2022 nợ lãi trong hạn chưa trả: 106.150.369 đồng, lãi đối với dư nợ gốc bị quá hạn 2.549.246 đồng, lãi phạt chậm trả: 10.941.750 đồng.
Tổng cộng nợ lãi theo hai hợp đồng cho vay là: 286.159.857 đồng.
Do bị đơn là bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo các Hợp đồng cho vay đã ký kết kể từ ngày 11/01/2023 nên Ngân hàng TMCP C khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP C số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm 08/11/2024 là: 1.412.159.857 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1.126.000.000 đồng và nợ lãi: 286.159.857 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 09/11/2024 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ theo quy định tại các Hợp đồng cho vay đã ký kết, là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 274, 275, 280, 463, 466 Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Vì vậy Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn là bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N phải chịu trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng TMCP C tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm 08/11/2024 là: 1.412.159.857 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1.126.000.000 đồng và nợ lãi: 286.159.857 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 09/11/2024 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ theo quy định tại các Hợp đồng cho vay đã ký kết.
[4] Về xử lý tài sản thế chấp: Theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, các bên thỏa thuận bảo đảm tiền vay bằng biện pháp thế chấp tài sản là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 450, tờ bản đồ số 15, diện tích: 179,5 m², tọa lạc tại Thôn D, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Hình thức sử dụng: sử dụng riêng. Mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn. Thời hạn sử dụng: Lâu dài theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 864729 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 19/05/2021, vào sổ cấp GCN: CS01784 cho ông Ngô Thanh P, chuyển nhượng cho ông Lê Viết N và bà Lê Thị Diễm H, cập nhật thay đổi lần gần nhất ngày 03/06/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Ngày 16/02/2022, bên thế chấp là bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N đã ký kết với Ngân hàng TMCP C hợp đồng thế chấp số LTDHUONG/2021/HĐBĐ/NHCT460 ngày 04/06/2021 và văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp bất động sản số LTDHUONG/2021/HĐBĐ/SĐBS/NHCT460 ngày 16/02/2022, đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định.
Xét thấy chủ thể ký kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, tài sản thế chấp thuộc quyền sử dụng của bên thế chấp, hợp đồng được công chứng theo quy định và tài sản được công chứng theo quy định tại các Điều 298, 317 và 319 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản 3 Điều 167 của Luật đất đai năm 2013; Điều 4 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm; Điều 22 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Do đó hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp lý.
Bên có nghĩa vụ trả nợ vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên căn cứ vào Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 49 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, Ngân hàng TMCP C có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ.
Trường hợp sau khi phát mãi tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng TMCP C thì bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP C đến khi trả hết nợ.
[5] Về án phí: Nguyên đơn khởi kiện được chấp nhận yêu cầu nên không phải chịu án phí. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm là 54.364.795 đồng. [Diễn giải: 36.000.0000 đồng + 3% (1.412.159.857 đồng – 800.000.000 đồng)= 54.364.795 đồng].
Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP C số tiền tạm ứng án phí đã nộp 24.751.000 đồng (Hai mươi bốn triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn đồng).
[6] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP C tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự, thời hạn kháng cáo cửa đương sự vắng mặt tại phiên tòa được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án
[8] Ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Áp dụng khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 158; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 117, 280, 298, 299, 317, 319, 385, 398, 463, 465, 466, 468 Bộ luật Dân sự; điểm a khoản 3 Điều 167 của Luật đất đai năm 2013; Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 4 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm; Điều 22 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP C. Buộc bị đơn là bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N phải trả cho Ngân hàng TMCP C tổng số tiền tính đến ngày 08/11/2024 là: 1.412.159.857 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1.126.000.000 đồng và nợ lãi: 286.159.857 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09/11/2024), bên vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín.
- Xác nhận hiệu lực của hợp đồng thế chấp số LTDHUONG/2021/HĐBĐ/NHCT460 ngày 04/06/2021 và văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp bất động sản số LTDHUONG/2021/HĐBĐ/SĐBS/NHCT460 ngày 16/02/2022. Kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Văn N1 không trả nợ hoặc chỉ trả được một phần khoản nợ và Bên thế chấp (bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Văn N1) không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp đã ký thì Ngân hàng TMCP C được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số LTDHUONG/2021/HĐBĐ/NHCT460 ngày 04/06/2021 và văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp bất động sản số LTDHUONG/2021/HĐBĐ/SĐBS/NHCT460 ngày 16/02/2022, đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định để thu hồi nợ vay. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 450, tờ bản đồ số 15, diện tích: 179,5 m², tọa lạc tại Thôn D, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Hình thức sử dụng: sử dụng riêng. Mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn. Thời hạn sử dụng: Lâu dài theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 864729 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 19/05/2021, vào sổ cấp GCN: CS01784 cho ông Ngô Thanh P, chuyển nhượng cho ông Lê Viết N và bà Lê Thị Diễm H, cập nhật thay đổi lần gần nhất ngày 03/06/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau khi xử lý hết tài sản bảo đảm mà vẫn không trả hết nợ, bà Lê Thị Diễm H có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng.
-
Về án phí: Buộc bà Lê Thị Diễm H và ông Lê Viết N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 54.364.795 đồng ( Năm mươi bốn triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn bảy trăm chín mươi lăm đồng).
Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP C số tiền tạm ứng án phí đã nộp 24.751.000 đồng (Hai mươi bốn triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0002859 ngày 05/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án sơ thẩm xét xử công khai báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hằng |
Bản án số 20/2024/DS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 20/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần C và chị Lê Thị Diễm H
