Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc



Bản án số: 20/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 26 - 9 - 2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
  • Các Thẩm phán: Bà Thái Thị Hồng Vân và bà Nguyễn Thị Thu Từ
  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến, Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang; Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15 tháng 8 năm 2024 và 26 tháng 9 năm 2024 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2024/TLPT - HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn. Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 01/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo, kháng nghị theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2024/QĐXXPT-HNGĐ ngày 16/9/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Phương T, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Thế C, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Anh Nguyễn Thế A, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
  1. Ủy ban nhân dân xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An; Địa chỉ trụ sở chính: xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu T1, chức vụ: Chủ tịch. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Văn P, chức vụ: Phó Chủ tịch. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Chị Nguyễn Thị Anh T2, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An (vợ anh Nguyễn Thế A). Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  3. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  4. Anh Nguyễn Văn Y, sinh năm 1984
    Địa chỉ: Thôn F, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  5. Anh Nguyễn Sỹ L, sinh năm 1978.
    Địa chỉ: Thôn F, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  6. Ông Bùi Xuân T3, sinh năm 1952 và bà Tạ Thị H1, sinh năm 1952.
    Đều có địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An. Ông T3 có mặt, bà H1 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  7. Anh Bùi Xuân T4, sinh năm 1979.
    Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  8. Bà Trịnh Thị P1, sinh năm 1970.
    Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  9. Bà Lê Thị H2, sinh năm 1965.
    Địa chỉ: Thôn F, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đề nghị xét xử vắng mặt.

- Những người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Thế L1; sinh năm: 1955; Địa chỉ: thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Sỹ M; sinh năm: 1959; Địa chỉ: thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • * Người kháng cáo: 1. Anh Nguyễn Thế C, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An. Là: Bị đơn trong vụ án.
  • 2. Anh Nguyễn Thế A, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An. Là: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án.
  • 3. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An. Là: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
  • * Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Trong đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) ngày 30/6/2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Bùi Thị Phương T trình bày:

+ Về tình cảm: chị và anh Nguyễn Thế C kết hôn với nhau vào năm 2013 tại UBND xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến tháng 4/2021 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã xúc phạm lẫn nhau, đã nhiều lần anh C đe dọa đánh đập chị, nguyên nhân là do vợ chồng tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Việc mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình nội ngoại và chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần nhưng sau mỗi lần hòa giải tình cảm vẫn không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng, tuy hiện nay hai vợ chồng vẫn còn sống chung với nhau nhưng chị thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thế C.

+ Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng chị có 01 người con chung tên là Nguyễn Thế B, sinh ngày 23/7/2015. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung: vợ chồng có các tài sản chung gồm:

  • Thửa đất số 22, tờ bản đồ số 44, diện tích 231,0m² tại thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA420678 ngày 04/10/2021 mang tên Nguyễn Thế C và Bùi Thị Phương T trị giá 750.000.000 đồng.
  • Trên thửa đất số 22, tờ bản đồ số 44 có 01 ngôi nhà dạng ốt xây bằng gạch táp lô, trần thạch cao, lợp tôn trị giá 81.026.000 đồng; Mái tôn sau nhà trị giá 50.062.000 đồng; Mái tôn phía trước nhà trị giá 44.830.000 đồng.

  • Thửa đất số 140, tờ bản đồ số 43 với diện tích 490,0m² tại thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An đã được UBND huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS217232 ngày 17/08/2015 mang tên Nguyễn Thế C và Bùi Thị Phương T trị giá 822.600.000 đồng.
  • Trên thửa đất số 140, tờ bản đồ số 43 có 01 ngôi nhà gỗ 3 gian trị giá 235.791.000 đồng; 01 nhà ở xây bằng gạch táp lô da trát hai mặt tường sơn, trần bê tông, mái lợp Pro xi măng, lát gạch liên doanh trị giá 173.625.000 đồng; Mái tôn sau nhà bếp trị giá 27.422.000 đồng; Mái tôn sau nhà trị giá 5.128.000 đồng; Nhà tắm, nhà vệ sinh trị giá 20.066.000 đồng; Giếng đào trị giá 3.089.000 đồng; Mái tôn phía trước nhà trị giá 17.282.000 đồng; Diềm mái tôn hai đầu mái tôn trước nhà 1.260.000 đồng; Cổng trước nhà trị giá 4.891.000 đồng; Bờ rào mương đá hộc, tường xây bằng gạch táp lô trị giá 11.952.000 đồng; 01 cây đu đủ trị giá 200.000 đồng; 01 cây chanh trị giá 100.000 đồng.

  • Thửa đất số 133, tờ bản đồ số 44 với diện tích 443,6m² tại thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 357429 ngày 05/3/2021 mang tên Nguyễn Thế C và Bùi Thị Phương T trị giá 2.025.000.000 đồng.
  • Trên thửa đất số 133, tờ bản đồ số 44 có 01 ngôi nhà dạng ốt xây bằng gạch táp lô, mái lợp tôn, nền láng xi măng trị giá 315.384.000 đồng; 01 nhà vệ sinh, nhà tắm trần bê tông trị giá 19.532.000 đồng; bể phốt bằng ống cống trị giá 4.508.000 đồng; Mái tôn phía trước trị giá 9.690.000 đồng; Nền bê tông trước sân trị giá 9.600.000 đồng; Mái tôn phía sau trị giá 12.800.000 đồng; Mái tôn phía bên trái của nhà nhìn từ ngoài vào trị giá 48.956.000 đồng; Diềm mái tôn bên trái ốt trị giá 7.860.000 đồng; T5 xây gạch táp lô trị giá 2.649.000 đồng; Giếng khoan trị giá 8.400.000 đồng do anh Nguyễn Thế A tạo lập.

  • Thửa đất số 72, tờ bản đồ số 49 với diện tích 1.800,0m² tại thôn I (nay là thôn B), xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An đã được UBND huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 655701 ngày 21/6/2020 mang tên Nguyễn Thế C và Bùi Thị Phương T.

Đối với các tài sản trên chị đề nghị giao cho chị thửa đất 133, tờ bản đồ số 44 và thửa đất số 22, tờ bản đồ số 44 cùng những tài sản vật kiến trúc gắn liền với đất. Vì thửa đất số 133 là của bố mẹ chị tặng cho vợ chồng, thửa 22 có căn nhà nhỏ để mẹ con chị ở vì hiện nay chị không có chỗ ở nào khác. Chị đề nghị hoàn lại giá trị chênh lệch tài sản cho anh C nếu có. Về các tài sản khác vợ chồng chị đã thỏa thuận tự chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: hiện nay vợ chồng chị còn nợ một số cá nhân sau:

  • Nợ chị Nguyễn Thị H, trú tại thôn B, xã H, huyện A (chị gái anh C) 200.000.000 đồng và tiền lãi 0,5%/tháng tính từ tháng 10/2021 cho đến nay.
  • Nợ ông Bùi Xuân T3, bà Tạ Thị H1, trú tại thôn B, xã H, huyện A (bố mẹ đẻ chị T): 155.000.000 đồng.
  • Nợ anh Bùi Xuân T4, trú tại thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa (anh trai chị T) 70.000.000 đồng.

Tổng số nợ chung là 425.000.000 đồng. Nếu ly hôn chị đề nghị chia đôi số nợ trên mỗi người trả một nửa.

- Trong quá trình giải quyết và tại phiên toà, bị đơn anh Nguyễn Thế C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: về thời gian, điều kiện, nơi đăng kí kết hôn, quá trình chung sống, tình trạng hôn nhân của vợ chồng đúng như chị T trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc cho đến tháng 01 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị T ngoại tình không quan tâm đến gia đình chồng con, vì vậy vợ chồng không còn tình cảm với nhau nữa, mặc dầu hiện nay, hai vợ chồng sống chung với nhau nhưng không ai quan tâm đến ai nên chị T yêu cầu giải quyết ly hôn, anh cũng đồng ý.

Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng anh có 01 con chung như chị T trình bày. Nếu ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: vợ chồng có các tài sản chung gồm:

  • Thửa đất số 22, tờ bản đồ số 44, diện tích 231,0m² tại thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA420678 ngày 04/10/2021 mang tên Nguyễn Thế C và Bùi Thị Phương T và 01 ngôi nhà dạng ốt xây bằng gạch táp lô, trần thạch cao, lợp tôn; Mái tôn sau nhà; Mái tôn phía trước nhà.
  • Thửa đất số 140, tờ bản đồ số 43 với diện tích 490,0m² tại thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An đã được UBND huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS217232 ngày 17/08/2015 mang tên Nguyễn Thế C và Bùi Thị Phương T. Trên thửa đất có 01 ngôi nhà gỗ 3 gian; 01 nhà ở xây bằng gạch táp lô da trát hai mặt tường sơn, trần bê tông, mái lợp pro xi măng, lát gạch liên doanh; Mái tôn sau nhà bếp; Mái tôn sau nhà; Nhà tắm, nhà vệ sinh; Giếng đào; Mái tôn phía trước nhà; D mái tôn hai đầu mái tôn trước nhà; Cổng; Bờ rào mương đá hộc, tường xây bằng gạch táp lô; 01 cây đu đủ; 01 cây chanh.
  • Thửa đất số 133, tờ bản đồ số 44 với diện tích 443,6m² tại thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 357429 ngày 05/3/2021 mang tên Nguyễn Thế C và Bùi Thị Phương T. Trên đất có 01 ngôi nhà dạng ốt xây bằng gạch táp lô, mái lợp tôn, nền láng xi măng; 01 nhà vệ sinh, nhà tắm trần bê tông; bể phốt bằng ống cống; Mái tôn phía trước; Nền bê tông trước sân; Mái tôn phía sau; Mái tôn phía bên trái của nhà nhìn từ ngoài vào; Diềm mái tôn bên trái ốt trị giá 7.860.000 đồng; T5 xây gạch táp lô; Giếng khoan do anh Nguyễn Thế A tạo lập.
  • Thửa đất số 72, tờ bản đồ số 49 với diện tích 1.800,0m² tại thôn I nay là thôn B), xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An đã được UBND huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 655701 ngày 21/6/2020 mang tên Nguyễn Thế C và Bùi Thị Phương T.

Nếu ly hôn anh yêu cầu Tòa án giao cho anh thửa đất số 140, tờ bản đồ số 43 và thửa đất số 22, tờ bản đồ số 44 và các tài sản trên đất có tính công sức của anh về khối tài sản của vợ chồng. Các tài sản sinh hoạt khác trong gia đình vợ chồng anh đã thỏa thuận tự chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: hiện nay vợ chồng anh còn nợ một số cá nhân sau:

  • Nợ chị Nguyễn Thị H, trú tại thôn B, xã H, huyện A 200.000.000 đồng và tiền lãi 0,5%/tháng tính từ tháng 10/2021 cho đến nay.
  • Nợ ông Bùi Xuân T3, bà Tạ Thị H1, trú tại thôn B, xã H, huyện A 155.000.000 đồng.
  • Nợ anh Bùi Xuân T4, trú tại thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa 70.000.000 đồng.
  • Nợ anh Nguyễn Sỹ L, trú tại thôn F, xã H, huyện A 50.000.000 đồng.
  • Nợ anh Trần Văn Y1, trú tại thôn F, xã H, huyện A 67.000.000 đồng.

Tổng số nợ chung là 542.000.000 đồng. Nếu ly hôn anh đề nghị chia đôi số nợ trên mỗi người trả một nửa.

- Tại phiên toà người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H2 trình bày: gia đình bà và gia đình chị T, anh C là hàng xóm liền kề nhau. Năm 2016 khi gia đình chị T làm nhà, xây bờ rào ngăn cách giữa hai nhà thì hai bên thỏa thuận gia đình chị T chịu tiền xây bờ rào, gia đình bà cho gia đình chị T đất đủ để xây bờ rào như hiện nay. Vì vậy bà thống nhất với hiện trạng sử dụng đất theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ mà Tòa án đã tiến hành, bà không có ý kiến hay tranh chấp gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên toà người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Xuân T3 và bà Tạ Thị H1 trình bày: năm 2018 ông bà có cho vợ chồng chị T, anh C vay số tiền 265.000.000 đồng để làm nhà với lãi suất 0,5%/tháng. Quá trình vay vợ chồng chị T, anh C đã trả cho ông bà 110.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi tính đến tháng 5/2019. Hiện nay còn nợ 155.000.000 tiền gốc và tiền lãi từ tháng 6/2019. Nay vợ chồng chị T, anh C ly hôn ông bà yêu cầu Tòa án buộc chị T, anh C phải trả số tiền còn nợ trên cho ông bà. Về lãi suất ông bà không yêu cầu.

Ngoài ra vào đầu năm 2021 ông bà có làm thủ tục tặng cho vợ chồng chị T, anh C 01 thửa đất có chiều rộng theo Quốc lộ 7A là 15m, chiều dài ra đến giáp đất của UBND xã H quản lý diện tích là 443,6m² (thửa 133, tờ bản đồ số 44). Về thửa đất này hiện nay ông bà đã tặng cho vợ chồng chị T, anh C nên ông bà không có ý kiến hay tranh chấp gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên toà người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H trình bày: năm 2015 chị có cho vợ chồng chị T, anh C vay số tiền 200.000.000 đồng, lãi suất 0,5%/tháng, mục đích để làm nhà. Do là chị em nên giữa hai bên không làm giấy tờ gì cả. Từ khi vay cho đến nay vợ chồng anh C chị T chưa trả cho chị tiền gốc, tiền lãi trả đến tháng 9/2021. Nay vợ chồng anh C chị T ly hôn anh yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh C, chị T phải trả cho chị số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng. Về lãi suất chị yêu cầu tính lãi suất từ tháng 10/2021 cho đến ngày xét xử hôm nay 27/3/2024 theo lãi suất 0,5%/tháng.

Năm 2019 chị có mượn của anh Nguyễn Thế A thửa đất số 72, tờ bản đồ số 49 tại thôn I, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An để trồng ngô và hoa màu, thửa đất đang tranh chấp giữa anh A và vợ chồng chị Bùi Thị Phương T, anh Nguyễn Thế C chị không có ý kiến hay tranh chấp gì. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên toà người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Y vắng mặt, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh trình bày: năm 2018 anh C có nhờ anh mua cho anh C 02 khúc gỗ với giá 17.000.000 đồng để làm nhà nhưng anh C chưa trả cho anh. Đến năm 2019 anh C có vay của anh 50.000.000 đồng để đóng bàn ghế và sắm sửa vật dụng trong nhà. Do là bạn bè chơi thân với nhau nên giữa hai bên không làm giấy tờ gì cả. Hiện nay anh C còn nợ anh số tiền 67.000.000 đồng. Nay vợ chồng anh C chị T ly hôn anh yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh C, chị T phải trả cho anh số tiền 67.000.000 đồng. Về lãi suất anh không yêu cầu.

- Tại phiên toà người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Sỹ L vắng mặt, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh trình bày: vào tháng 10/2021 anh có cho anh C vay số tiền 50.000.000 đồng để lo công việc. Do là bạn bè chơi thân với nhau nên giữa hai bên không làm giấy tờ gì cả. Hiện tại anh C còn nợ anh số tiền 50.000.000 đồng. Nay vợ chồng anh C, chị T ly hôn anh yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh C, chị T phải trả cho anh số tiền 50.000.000 đồng. Về lãi suất anh không yêu cầu.

- Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND xã H trình bày: Đối với các công trình của anh Nguyễn Thế A xây lấn sang phần đất của UBND xã H quản lý tại thửa đất số 133, tờ bản đồ số 43 tại thôn B, xã H, huyện A thì yêu cầu anh Nguyễn Thế A phải tháo dỡ phần lấn chiếm sang đất của UBND xã trả lại hiện trạng ban đầu cho UBND xã.

- Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập anh Nguyễn Thế A trình bày: nguồn gốc thửa đất số 72, tờ bản đồ số 49 diện tích 1.800m² tại thôn I, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An là vào năm 2009 anh mua của ông Nguyễn Bá Đ với giá 15.500.000 đồng. Khi mua bán hai bên có viết giấy viết tay, sau đó đánh máy thành “Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở”. Tuy nhiên do không có thời gian và điều kiện nên anh chưa làm thủ tục sang tên GCNQSDĐ. Cho đến khi vợ chồng anh Nguyễn Thế C ly hôn, khi đi xem xét thẩm định tại chỗ thửa đất đó thì anh mới biết thửa đất anh mua đã được sang tên cho vợ chồng anh C, chị T. Vì vậy anh yêu cầu vợ chồng anh Nguyễn Thế C và chị Bùi Thị Phương T phải trả lại thửa đất số 72, tờ bản đồ số 49 tại thôn I (nay là thôn B), xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An cho anh.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Anh T2 trình bày: chị là vợ anh Nguyễn Thế A, thửa đất đang tranh chấp giữa anh A và vợ chồng chị Bùi Thị Phương T, anh Nguyễn Thế C là tài sản riêng của anh A nên chị không có ý kiến hay tranh chấp gì. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên toà người làm chứng bà Trịnh Thị P1 vắng mặt, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án bà trình bày: bà là vợ của ông Nguyễn Bá Đ (chết năm 2010), trước đây vợ chồng bà có một thửa đất tại thôn I, xã H, huyện A (nay là thửa số 72, tờ bản đồ số 49). Năm 2009 khi bà đang đi làm ăn trong miền N thì bà N (mẹ của anh Nguyễn Thế A và anh Nguyễn Thế C) điện thoại vào đặt vấn đề mua thửa đất đó nhưng bà không biết được bà N hỏi mua cho ai, do điều kiện ở xa nên mọi thủ tục mua bán do ông Đ ở nhà làm, sau đó ông Đ gọi vào thông báo với bà đã nhận tiền đất đầy đủ, số tiền đó vợ chồng bà dùng vào làm nhà. Khi ông Đ chết bà mới biết thửa đất đó bán cho anh Nguyễn Thế C (con bà N). Đến năm 2018 bà về nhà thì chị T (vợ anh C) nhờ bà làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng chị T nên bà đã làm các thủ tục sang tên GCNQSDĐ cho vợ chồng chị T. Việc vợ chồng bà bán đất đã làm thủ tục đầy đủ, bà không có ý kiến hay tranh chấp gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên toà người làm chứng ông Nguyễn Thế L1 vắng mặt, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án ông trình bày: vào khoảng tháng 12/2009 khi đó anh Nguyễn Thế A do bận công việc đi lái xe khách nên có gửi cho ông số tiền 10.000.000 đồng và nhờ ông đến nhà ông Nguyễn Bá Đ trồng tiền mua đất. Khi đến nhà ông Đ thì ông có mời anh Nguyễn Sỹ M (vừa là hàng xóm, vừa là thợ xây nhà cho ông Đ) đến làm chứng cùng với ông Nguyễn Bá C1 (anh trai ông Đ, hiện nay ông C1 đã chết). Sau khi trồng tiền và làm giấy tờ thì ông đã bàn giao lại cho anh Nguyễn Thế A, còn mọi việc sau đó ông không biết.

- Tại phiên toà người làm chứng anh Nguyễn Sỹ M vắng mặt, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh trình bày: vào tháng 12/2009 khi đó anh đang ở nhà thì có ông Nguyễn Thế L1 (chú ruột của anh Nguyễn Thế A và anh Nguyễn Thế C) có nhờ anh sang làm chứng cho việc mua đất giữa anh Nguyễn Thế A và ông Nguyễn Bá Đ. Khi anh sang thì có ông Nguyễn Bá C1 (hiện nay ông C1 đã chết). Sau khi hai bên giao tiền xong ông ký vào giấy rồi ra về, còn mọi việc sau đó như thế nào thì ông không biết.

Tại Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 01/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ vào Điều 51, 53, 56, 37, 59, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Các Điều 280, 463, 466 của Bộ luật Dân sự.

Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, các Điều 147, 157, 165, 166; 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. [1]. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể: chị Bùi Thị Phương T và anh Nguyễn Thế C thỏa thuận thuận tình ly hôn.
  2. [2]. Về con chung: Giao con chung tên là Nguyễn Thế B, sinh ngày 23/7/2015 cho chị Bùi Thị Phương T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu B trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Thế C do chị Bùi Thị Phương T không yêu cầu.

Anh C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Nếu anh C lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh C.

Chị T cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  1. [3]. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thế A về việc yêu cầu chị Bùi Thị Phương T và anh Nguyễn Thế C trả lại thửa đất số 72, tờ bản đồ số 49 tại thôn I (nay là thôn B), xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An
  2. [4]. Chia tài sản chung vợ chồng:
  1. [4.1]. Chia cho chị Bùi Thị Phương T được sử dụng và sở hữu số tài sản sau:
    • - Quyền sử dụng thửa đất số 22, tờ bản đồ số 44, diện tích 231.0m² tại thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA420678 ngày 04/10/2021 mang tên Nguyễn Thế C và Bùi Thị Phương T trị giá 750.000.000 đồng.
    • Trên thửa đất số 22, tờ bản đồ số 44 có 01 ngôi nhà dạng ốt xây bằng gạch táp lô, trần thạch cao, lợp tôn trị giá 81.026.000 đồng; Mái tôn sau nhà trị giá 50.062.000 đồng; Mái tôn phía trước nhà trị giá 44.830.000 đồng.

    • - Quyền sử dụng thửa đất số 133, tờ bản đồ số 44 với diện tích 443,6m² tại thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 357429 ngày 05/3/2021 mang tên Nguyễn Thế C và Bùi Thị Phương T trị giá 2.025.000.000 đồng.

    Buộc chị Bùi Thị Phương T phải tháo dỡ và trả lại 53,9m² đất, 21,1m² nhà tạm lợp mái tôn, 16,2m² nhà ống sang thừa CLN (54) và 257,1m² đất, 25,7m² nhà tạm lợp mái tôn, 50,4m² nhà ống sang thửa NCS (79), nhà vệ sinh, nhà tắm để trả lại đất cho UBND xã H nên cần được chấp nhận. Giao cho chị T phần còn lại là 90,2m² nhà ống trị giá 180.048.334 đồng, 80,9m² nhà tạm lợp mái tôn trị giá 28.088.939 đồng; Mái tôn phía trước trị giá 9.690.000 đồng; Nền bê tông trước sân trị giá 9.600.000 đồng; Diềm mái tôn bên trái ốt trị giá 7.860.000 đồng; T5 xây gạch táp lô trị giá 2.649.000 đồng; Giếng khoan trị giá 8.400.000 đồng.

    Tổng trị giá tài sản chị Bùi Thị Phương T được giao sở hữu là: 2.951.518.000 đồng.

    Buộc chị Bùi Thị Phương T có nghĩa vụ giao cho anh C số tiền chênh lệch về giá trị tài sản với số tiền là 571.680.137 đồng.

    Buộc chị Bùi Thị Phương T phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Nguyễn Thế A 123.168.137 đồng.

    Về nợ chung: Chị Bùi Thị Phương T có nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân sau:

    • Trả cho ông Bùi Xuân T3 và bà Bùi Thị H3 77.500.000 đồng.
    • Trả cho anh Bùi Xuân T4 35.000.000 đồng.
    • Trả cho chị Nguyễn Thị H 114.950.000 đồng. Trong đó tiền gốc là 100.000.000 đồng, tiền lãi là 14.950.000 đồng.

    Kể từ ngày 28/3/2024 chị Bùi Thị Phương T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng vay tiền cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này.

  2. [4.2]. Chia cho anh Nguyễn Thế C được sử dụng và sở hữu tài sản sau:
    • - Quyền sử dụng thửa đất số 140, tờ bản đồ số 43 với diện tích 490,0m² tại thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An đã được UBND huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS217232 ngày 17/08/2015 mang tên Nguyễn Thế C và Bùi Thị Phương T trị giá 822.600.000 đồng.
    • Trên thửa đất số 140, tờ bản đồ số 43 có 01 ngôi nhà gỗ 3 gian trị giá 235.791.000 đồng; 01 nhà ở xây bằng gạch táp lô da trát hai mặt tường sơn, trần bê tông, mái lợp Pro xi măng, lát gạch liên doanh trị giá 173.625.000 đồng; Mái tôn sau nhà bếp trị giá 27.422.000 đồng; Mái tôn sau nhà trị giá 5.128.000 đồng; Nhà tắm, nhà vệ sinh trị giá 20.066.000 đồng; Giếng đào trị giá 3.089.000 đồng; Mái tôn phía trước nhà trị giá 17.282.000 đồng; Diềm mái tôn hai đầu mái tôn trước nhà 1.260.000 đồng; Cổng trước nhà trị giá 4.891.000 đồng; Bờ rào mương đá hộc, tường xây bằng gạch táp lô trị giá 11.952.000 đồng; 01 cây đu đủ trị giá 200.000 đồng; 01 cây chanh trị giá 100.000 đồng.

    • - Quyền sử dụng thửa đất số 72, tờ bản đồ số 49 với diện tích 1.800,0m² tại thôn I nay là thôn B), xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An đã được UBND huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 655701 ngày 21/6/2020 mang tên Nguyễn Thế C và Bùi Thị Phương T trị giá 1.179.600.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản anh Nguyễn Thế C được giao sở hữu là: 2.503.006.000 đồng.

Anh Nguyễn Thế C được nhận số tiền chênh lệch giá trị tài sản từ chị T 571.680.137 đồng.

Về nợ chung: Anh Nguyễn Thế C có nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân sau:

  • Trả cho ông Bùi Xuân T3 và bà Bùi Thị H3 77.500.000 đồng.
  • Trả cho anh Bùi Xuân T4 35.000.000 đồng.
  • Trả cho chị Nguyễn Thị H 114.950.000 đồng. Trong đó tiền gốc là 100.000.000 đồng, tiền lãi là 14.950.000 đồng.

Kể từ ngày 28/3/2024 anh Nguyễn Thế C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng vay tiền cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này.

Anh C được nhận số tiền chênh lệch giá trị tài sản từ chị T 434.345.500 đồng.

Buộc anh Nguyễn Thế C phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Nguyễn Thế A 123.168.137 đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về lãi suất do chậm thi hành án, nghĩa vụ chịu án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/4/2024, bị đơn trong vụ án là anh Nguyễn Thế C kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 01/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An với nội dung: Toà án giải quyết vụ án không khách quan, thẩm phán L2 và thư ký H cố tình giải quyết vụ án sai lệch theo hướng bảo vệ cho chị T. Biên bản định giá tài sản đã sửa chữa rất nhiều nội dung: về số lượng tài sản không đúng với thực tế; biên bản định giá hiện tại lưu trong hồ sơ và biên bản ngày tiến hành định giá khác nhau; giá trị tài sản theo thống kê của ngày định giá mà Toà án cung cấp khác với biên bản định giá có trong hồ sơ; khi định giá tài sản không cho đương sự ký vào biên bản, nhưng không hiểu vì sao hiện nay lại có chữ ký của anh. Toà án không ghi nhận hết ý kiến, yêu cầu của anh, tại phiên toà anh không trình bày và thừa nhận nội dung gửi tiền về cho anh trai là Nguyễn Thế A để nhờ mua đất nhưng Toà án ghi nhận vào bản án, biên bản phiên toà là cố tình làm sai. Các khoản nợ của anh là có căn cứ và số nợ đó dùng để trả lãi khoản vay ngân hàng, khi mua vật liệu và tiền công thợ khi làm nhà mà hiện nay các tài sản đó được xác định là tài sản chung nhưng nợ thì không ghi nhận. Việc giao thửa đất số 22, tờ bản đồ 44 cho chị T là không hợp lý vì tại ngôi nhà này đang thờ phụng ông bà anh, anh cũng không có công việc ổn định nên cần giao cho anh để anh kinh doanh buôn bán kiếm thu nhập nuôi sống mình. Biên bản phiên toà ghi không đúng nội dung trình bày của anh và của đương sự trong vụ án mà nó được chỉnh sửa cho phù hợp với nội dung bản án. Khi anh và đương sự khác thực hiện quyền được xem biên bản phiên toà thì không được xem. Quá trình giải quyết và tại phiên toà, anh đã khai lại đề nghị Toà án xác định thửa đất số 72, tờ 49 là tài sản của anh trai anh là anh Nguyễn Thế A, Toà án cần điều tra xác minh việc nhận đất khi chuyển nhượng, việc sử dụng đất sau khi chuyển nhượng... nhưng Toà án cố tình không làm. Bản án ghi nhận không đầy đủ các nội dung phát biểu của Viện kiểm sát. Khi Toà án xem xét thẩm định đất vợ chồng thì anh không được tham gia. Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh.

Ngày 12/4/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập anh Nguyễn Thế A kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 01/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An với nội dung: Thẩm phán và thư ký đã cố tình thay đổi các nội dung của biên bản định giá tài sản. Việc định giá tài sản không thông báo cho anh tham gia. Sau khi định giá không cho các đương sự ký biên bản mặc dù người tham gia đã yêu cầu nhưng không được xem, không được ký. Biên bản định giá mà sau đó thư ký Toà án cho xem và cho chụp không có chữ ký của đương sự, số lượng tài sản, giá trị, giá tài sản khác với biên bản định giá hiện có trong hồ sơ cũng như theo Bản án xác định. Biên bản phiên toà ghi không đúng nội dung trình bày của anh: quá trình giải quyết và tại phiên toà, anh luôn yêu cầu Toà án xác định thửa đất số 72, tờ 49 là tài sản của anh, yêu cầu Toà án điều tra xác minh việc nhận đất khi chuyển nhượng, việc sử dụng đất sau khi chuyển nhượng (việc thuê máy, mua đất, san lấp mặt bằng... Anh có yêu cầu Toà án huỷ bìa đỏ đã cấp trái pháp luật cho vợ chồng T, C nhưng không được xem xét, ghi nhận vào các biên bản, Biên bản phiên toà, Bản án... Toà án không tiến hành xác minh việc cấp bìa đỏ cho C, T có hợp pháp hay không vì từ khi mua đất của vợ chồng ông Đ, bà P1 đến nay anh là người sử dụng đất, bìa đỏ ông Đ giao cho anh từ đó đến nay anh đang giữ.

Tại buổi làm việc ghi lời khai người làm chứng bà Trịnh Thị P1 tại Toà án anh là người có mặt và không có nội dung bà P1 nói ông Đ chồng bà P1 nói với bà P1 là bán cho anh Nguyễn Thế C, mặt khác khi Toà án gần xét xử vụ án thì một mình Thẩm phán L2 đến gặp bà P1 để yêu cầu bà P1 khai lại, hỏi bà P1 có phải nhận tiền của anh để khai như vậy không... Khi giải quyết, Toà án không điều tra, xác minh về việc anh mua đất, thuê người đào đất, san lấp đất... mà đã chấp nhận lời khai của chị T về việc chị T đã sử dụng, san lấp đất... mà không có bất kỳ căn cứ nào. Lời khai của anh C cũng có sự thay đổi không thừa nhận việc gửi tiền về nhờ anh mua đất, tại phiên toà anh C khai tiền gửi về là để trả nợ cho anh C khi anh C đi xuất khẩu lao động... nhưng Bản án lại ghi tại phiên toà anh C khai tiền gửi về và nhờ anh mua đất. Biên bản phiên toà ghi không đúng, không đầy đủ ý kiến, yêu cầu của anh tại phiên toà ngày 27/3/2004; bản án ghi nhận không đầy đủ các nội dung phát biểu của Viện kiểm sát; khi Toà án xem xét thẩm định đất vợ chồng anh không được tham gia, mặc dù tài sản anh mua trước khi kết hôn nhưng việc quản lý, sử dụng, cải tạo, tôn tạo đất cũng có công sức của vợ anh. Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An huỷ Bản án sơ thẩm để xét xử lại bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh.

Ngày 12/4/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 01/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An với nội dung: Toà án chỉ buộc vợ chồng nguyên đơn chị T, bị đơn anh C trả nợ cho chị mà không trả cho chồng chị là không đúng mặc dù tại phiên toà chị có yêu cầu Toà án. Đối với thửa đất số 72, tờ bản đồ số 49, tại thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An hiện nay do vợ chồng chị Nguyễn Thị H và Nguyễn Văn T6 quản lý sử dụng từ năm 2019 cho đến nay. Đất này vợ chồng chị mượn của anh Nguyễn Thế A là em trai chị. Quá trình sử dụng đất chị đã có công sức cải tạo, bảo vệ đất như: san phẳng đất, trồng cây trên đất, làm hàng rào xung quanh thửa đất, hiện nay trên thửa đất còn có các cây trồng của vợ chồng chị nhưng không được Toà án xem xét. Các nội dung chị yêu cầu không được ghi nhận vào biên bản phiên toà và không được Toà án xem xét, bản án không ghi nhận ý kiến, yêu cầu của chị. Các trình bày ý kiến của nguyên đơn chị T thì Toà án không xác minh đầy đủ nhưng đều chấp nhận. Khi Toà án xem xét thẩm định, định giá tài sản đối với thửa đất số 72, tờ bản đồ 49 tại thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An thì vợ chồng chị không được tham gia. Khi Toà án đi ghi lời khai của chị cũng không có Thẩm phán đi cùng mà chỉ một mình thư ký H. Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xử lại vụ án huỷ Bản án sơ thẩm để đưa chồng chị vào tham gia giải quyết vụ án. Tiến hành xem xét, thẩm định, định giá cây trồng, tài sản khác của vợ chồng chị trên thửa đất 72, tờ 49 và xem xét công sức của vợ chồng chị trên thửa đất này; đồng thời buộc vợ chồng chị T, anh C trả nợ cho cả hai vợ chồng chị mà không phải chỉ một mình chị.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An có Quyết định số 856/QĐ-VKS-DS kháng nghị phúc thẩm đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An vì cho rằng quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm:

  • Giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện: Căn cứ vào đơn khởi kiện của chị Bùi Thị Phương T, Toà án xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”. Quá trình giải quyết vụ án, UBND xã H trình bày: “Đối với công trình của anh Nguyễn Thế A xây lấn sang phần đất của UBND xã H quản lý tại thửa đất số 133, tờ bản đồ số 43 tại thôn B, xã H, huyện A thì yêu cầu anh Nguyễn Thế A phải tháo dỡ phần lấn chiếm sang đất của UBND xã trả lại hiện trạng ban đầu cho UBND xã”. Toà án cấp sơ thẩm chưa lấy lời khai của UBND xã H để làm rõ UBND xã H có yêu cầu độc lập đối với nội dung trên hay không để hướng dẫn đương sự làm đơn và tiến hành thụ lý yêu cầu độc lập theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngoài ra, tài liệu có tại hồ sơ vụ án thể hiện khối tài sản trên thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Thế A nhưng cấp sơ thẩm buộc chị T phải tháo dỡ và trả lại đất cho UBND xã H là không chính xác, gây khó khăn cho công tác thi hành án.
  • Điều tra, xác minh chưa đầy đủ: Quá trình giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, chị Nguyễn Thị H trình bày: “Năm 2019, có mượn đất của anh Nguyễn Thế A để trồng ngô và hoa màu, việc tranh chấp đất giữa anh C, chị T và anh Thế A tôi không biết”. Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 04/5/2023 thể hiện Toà án không thẩm định tài sản trên đất đối với thửa đất số 72, tờ bản đồ 49. Chị H không tham gia buổi thẩm định nên không có cơ sở xác định chị H không yêu cầu thẩm định tài sản trên thửa đất số 72, tờ bản đồ 49. Toà án cũng chưa xác minh, làm rõ trên thửa đất số 72, tờ bản đồ 49 tại xã H, huyện A có những tài sản gì, do ai tạo lập, chị H sử dụng thửa đất từ thời gian nào, có tôn tạo gì trên thửa đất hay không để có cơ sở giải quyết triệt để vụ án.

Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ anh Nguyễn Văn T6 (chồng chị H) có liên quan đến tài sản trên thửa đất số 72 hay không, việc không triệu tập đầy đủ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng là thiếu sót.

  • Giải quyết vụ án chưa chính xác, chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự: Vợ chồng anh C, chị T có 04 thửa đất được xác định là tài sản chung của vợ chồng, trong đó có 02 thửa đất bám đường Quốc lộ 7A là thửa đất số 133 có nguồn gốc do bố mẹ chị T tặng cho vợ chồng anh C, chị T; còn thửa đất số 22 có nguồn gốc do anh C bán thửa đất là tài sản riêng của anh C có trước thời kỳ hôn nhân để mua, sau đó nhập vào tài sản chung vợ chồng, trên thửa đất này hiện nay có nhà và một số tài sản khác do vợ chồng anh C, chị T tạo lập. Theo lời khai của anh C thì gia đình anh C có lập bàn thờ để thờ cúng trên thửa đất này, nên cần giao thửa đất này cho anh C được quyền sử dụng là hợp lý. Toà án cấp sơ thẩm tuyên giao cho chị Bùi Thị Phương T quyền sử dụng đất 02 thửa đất bám mặt đường Quốc lộ 7A là không phù hợp, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh C.
  • Vi phạm về án phí: Trong vụ án này, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Thế A có yêu cầu độc lập, yêu cầu vợ chồng anh Nguyễn Thế C và chị Bùi Thị Phương T trả lại thửa đất số 72, tờ bản đồ số 49 tại thôn I (nay là thôn B), xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An. Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu độc lập của anh Nguyễn Thế A và buộc anh Nguyễn Thế A phải chịu 47.388.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, trong vụ án này Toà án chỉ xem xét về quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất của ai, do đó anh Nguyễn Thế A chỉ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch. Việc Bản án dân sự sơ thẩm buộc anh Nguyễn Thế A phải chịu án phí có giá ngạch là vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Về án phí đối với chia tài sản chung, nợ chung: theo Bản án sơ thẩm, tổng giá trị tài sản chị T được giao sở hữu có trị giá 2.951.518.000 đồng, sau khi trích chênh lệch tài sản cho anh C là 571.680.137 đồng, thì chị T được sở hữu, sử dụng khối tài sản có trị giá (2.951.518.000 đồng – 571.680.137 đồng) = 2.379.837.863 đồng nên chị T phải chịu án phí chia tài sản chung là 72.584.394 đồng; án phí thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba: 17.530.906 đồng, tổng án phí là 90.115.300 đồng. Bản án sơ thẩm buộc chị T phải chịu 91.030.360 đồng là không đúng quy định pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị T.

Đối với anh Nguyễn Thế C: theo bản án sơ thẩm, tài sản anh C được giao sở hữu, sử dụng là (2.503.006.000 đồng + 571.680.137 đồng) = 3.074.686.137 đồng nên anh C phải chịu án phí chia tài sản chung là 86.481.360 đồng; án phí thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba: 17.530.906 đồng, tổng án phí là 104.012.266 đồng. Bản án sơ thẩm buộc anh C phải chịu 82.060.120 đồng là không đúng quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước.

Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử phúc thẩm theo hướng huỷ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn chị Bùi Thị Phương T giữ nguyên nội dung khởi kiện, đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo và kháng nghị, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị đơn anh Nguyễn Thế C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập anh Nguyễn Thế A, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H giữ nguyên nội dung kháng cáo; đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo và kháng nghị, huỷ bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên toà phúc thẩm, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  • - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự: chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An và kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Thế C; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập anh Nguyễn Thế A, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H, hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn anh Nguyễn Thế C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập anh Nguyễn Thế A, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H đều kháng cáo trong thời hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Đồng thời, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An kháng nghị trong thời hạn luật định nên kháng cáo của anh C, anh Thế A, chị H và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND xã H, chị Nguyễn Thị Anh T2, anh Bùi Xuân T4, bà Tạ Thị H1, bà Lê Thị H2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt và có đề nghị xét xử vắng mặt. Theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan này. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử cũng đã hỏi ý kiến của các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không nhưng các đương sự không thỏa thuận được. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
  2. [2]. Xét kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Thế C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập anh Nguyễn Thế A, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử thấy rằng:
  1. [2.1]. Đối với nội dung kháng cáo về nội dung của Biên bản thẩm định, định giá tài sản: Tại phiên tòa, anh C trình bày Biên bản định giá tài sản đã sửa chữa rất nhiều nội dung: về số lượng tài sản không đúng với thực tế; biên bản định giá hiện tại lưu trong hồ sơ và biên bản ngày tiến hành định giá khác nhau; giá trị tài sản theo thống kê của ngày định giá mà Toà án cung cấp khác với biên bản định giá có trong hồ sơ; khi định giá tài sản không cho đương sự ký vào biên bản, nhưng không hiểu vì sao hiện nay lại có chữ ký của anh nhưng anh C không xuất trình được các tài liệu, chứng cứ chứng minh chữ ký trong Biên bản định giá tài sản không phải là của anh và cũng không yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký của anh trong Biên bản định giá tài sản. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 15/8/2024, anh C có làm đơn yêu cầu Tòa án tiến hành định giá lại tài sản nhưng sau đó lại không nộp tạm ứng chi phí tố tụng. Ngoài ra, anh C cũng không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh giá trị mà Hội đồng đã định giá và giá thị trường của các tài sản là có sự chênh lệch nhau. Mặt khác, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện tại Biên bản định giá tài sản ngày 05/5/2023, anh C có ghi nội dung: “không đồng ý về giá trị thừa 140 và thửa 72” nên sau đó anh C đã có “Đơn kiến nghị về việc định giá tài sản” đề ngày 10/6/2023. Tại “Biên bản thống nhất giá trị tài sản” ngày 30/01/2024, chính anh C và chị T đã thống nhất về giá trị tài sản của thửa đất số 140 và thửa đất số 72. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh C cũng thừa nhận nội dung tại “Biên bản thống nhất giá trị tài sản” ngày 30/01/2024 là ghi nhận ý kiến tự nguyện của anh và chị T, không có tài liệu, chứng cứ về sự ép buộc hoặc lừa dối. Vì vậy, khi xét xử sơ thẩm, cấp sơ thẩm đã lấy giá trị theo “Biên bản thống nhất giá trị tài sản” ngày 30/01/2024, không lấy giá trị của thửa đất số 140 và thửa đất số 72 theo “Biên bản định giá tài sản” ngày 05/5/2023 để làm cơ sở phân chia cho các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự nên nội dung kháng cáo này của anh C là không có cơ sở để chấp nhận.
  2. Về nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Thế A và chị Nguyễn Thị H về việc định giá tài sản không thông báo cho các đương sự tham gia. Xét thấy, tại hồ sơ vụ án thể hiện, quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, anh Nguyễn Thế A và chị Nguyễn Thị H đều có đơn đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc cũng như phiên tòa. Tại phiên tòa phúc thẩm mặc dù đã được Hội đồng xét xử xét hỏi nhưng anh Thế A không yêu cầu tiến hành xem xét, thẩm định và định giá lại, không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh giá trị mà Hội đồng đã định giá và giá thị trường của các tài sản là có sự chênh lệch nhau. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 15/8/2024, chị H có làm đơn yêu cầu Tòa án tiến hành định giá lại tài sản nhưng sau đó lại không nộp tạm ứng chi phí tố tụng. Mặt khác, do sau khi có kết quả định giá tài sản, chị T và anh C đã có “Biên bản thống nhất giá trị tài sản” ngày 30/01/2024 và cấp sơ thẩm đã lấy giá trị trong biên bản theo sự thỏa thuận này của các đương sự làm cơ sở phân chia. Do đó, giá trị tài sản tại biên bản định giá hiện có trong hồ sơ khác với giá trị theo Bản án xác định nên nội dung kháng cáo này của anh Thế A và chị H là không có cơ sở để chấp nhận.

  3. [2.2]. Về nội dung kháng cáo liên quan đến thửa đất số 72, tờ bản đồ số 49, diện tích 1.800m² tại thôn I (nay là thôn B), xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An đã được UBND huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 655701 ngày 21/6/2020 mang tên Nguyễn Thế C và Bùi Thị Phương T (gọi tắt là thửa đất số 72):
  4. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị Phương T trình bày: Thửa đất số 72 là do vợ chồng chị lập hợp đồng chuyển nhượng với bà Trịnh Thị P1 vào ngày 08/11/2019 tại UBND xã H. Sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng, chị và anh C đã được cấp GCNQSD đất số CR 655701 ngày 21/6/2020 đứng tên hai vợ chồng. Theo chị T được anh C kể lại là vào năm 2009 khi anh C đi xuất khẩu lao động tại Liên bang N có gửi tiền về nhờ anh Nguyễn Thế A mua hộ cho anh C thửa đất gần nhà mẹ anh C. Sau khi mua được đất, anh Thế A đã đưa lại GCNQSD đất cho anh C. Trong thời kỳ hôn nhân, anh C đã đưa GCNQSD đất cho chị T để đi làm thủ tục cấp GCNQSD đất đứng tên hai vợ chồng; việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng là do hai vợ chồng cùng ký kết trong thời kỳ hôn nhân nên đây là tài sản chung vợ chồng.

    Về phía bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập anh Nguyễn Thế A trình bày quá trình giải quyết và tại phiên toà sơ thẩm, anh luôn yêu cầu Toà án xác định thửa đất số 72, tờ 49 là tài sản của anh, yêu cầu Toà án điều tra xác minh việc nhận đất khi chuyển nhượng, việc sử dụng đất sau khi chuyển nhượng (việc thuê máy, mua đất, san lấp mặt bằng...). Bị đơn anh Nguyễn Thế C cũng trình bày lời khai của anh đã có sự thay đổi, tại phiên tòa anh không thừa nhận việc gửi tiền về là để nhờ anh Thế A mua đất mà khai gửi tiền về là để trả số nợ trước khi anh đi xuất khẩu lao động... nhưng bản án lại ghi tại phiên toà anh C khai tiền gửi về và nhờ anh A mua đất là không đúng. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa, các bên đương sự đều thừa nhận nguồn gốc thửa đất số 72 là của ông Nguyễn Bá Đ (đã chết ngày 23/02/2010) và bà Trịnh Thị P1. Tại “Đơn yêu cầu độc lập” đề ngày 18/9/2023 cũng như các lời khai sau thời điểm có đơn yêu cầu độc lập anh Thế A cho rằng thửa đất số 72 là do anh mua của ông Nguyễn Bá Đ vào năm 2009 với giá tiền là 15.500.000 đồng. Khi mua bán hai bên có làm giấy viết tay sau đó đánh máy lại thành “Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở” đề ngày 28/11/2009, có xác nhận của xóm trưởng là ông Ngô Trung T7. Ông Đ đã nhận tiền hai lần: lần 1 bản thân anh Thế A đã giao số tiền 5.500.000 đồng cho ông Đ; lần 2 do anh Thế A đang đi lái xe khách tuyến C - Hà Nội nên có gửi cho ông Nguyễn Thế L1 (là chú ruột) số tiền 10.000.000 đồng để ông L1 đến nhà ông Đ trả hộ số tiền mua nhà còn lại cho ông Đ. Các lần giao tiền đều có viết giấy, ông Đ đã ký vào phần người nhận tiền, có anh Nguyễn Sỹ M và ông Nguyễn Bá C1 (là anh trai ông Đ) chứng kiến việc giao nhận tiền. Sau khi mua đất xong thì anh trồng keo và xoan đâu cho đến năm 2018, anh thuê máy múc vào san lấp mặt bằng hết khoảng 400.000.000 đồng rồi cho vợ chồng chị gái là Nguyễn Thị H và Nguyễn Văn T6 trồng ngô, trồng sắn. Bị đơn anh Nguyễn Thế C cũng thừa nhận thửa đất số 72 là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Thế A, số tiền 1.000USD mà anh gửi về cho anh Thế A là để trả nợ trước đó chứ không phải là tiền mua đất nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, cả anh Thế A và anh C đều không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc anh C vay anh Thế A số tiền 1.000USD trước khi đi xuất khẩu lao động. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Thế A cũng thừa nhận số tiền anh đã trả cho ông Nguyễn Bá Đ có một phần là từ tiền anh C chuyển về. Anh Thế A trình bày anh nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá Đ với giá tiền là 15.500.000 đồng nhưng trong nội dung của hai “Giấy nhận tiền” do anh Thế A xuất trình lại có tổng số tiền là 20.500.000 đồng, lời khai của anh Thế A và ông Nguyễn Thế L1, ông Nguyễn Sỹ M có mâu thuẫn về số lần giao nhận tiền cũng như số tiền giao nhận. Theo anh Thế A thì sau khi mua đất, cho đến năm 2018, anh thuê máy múc vào san lấp mặt bằng hết khoảng 400.000.000 đồng nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh nguồn gốc số tiền 400.000.000 đồng. Mặt khác, tuy giấy tờ chuyển nhượng giữa anh Thế A và ông Nguyễn Bá Đ chỉ là giấy viết tay, tuy nhiên cũng tại phiên tòa anh Thế A thừa nhận anh không có tài liệu, chứng cứ chứng minh về việc đã yêu cầu ông Đ và sau khi ông Đ chết là yêu cầu bà P1 (vợ ông Đ) làm thủ tục tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để sang tên cho anh. Về phía bị đơn anh Nguyễn Thế C thừa nhận năm 2009, khi đang đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa liên bang N1 có nghe thông tin từ anh Thế A về việc anh Thế A nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Bá Đ nhưng cũng không lý giải được lý do gì đến năm 2019 anh vẫn cùng chị Bùi Thị Phương T đến trụ sở UBND xã H, huyện A để làm thủ tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Trịnh Thị P1. Anh C cho rằng việc anh ký kết vào hợp đồng chuyển nhượng là do chị T yêu cầu nhưng anh C là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, ký kết vào hợp đồng chuyển nhượng và sau khi được cấp GCNQSD đất đứng tên hai vợ chồng cũng không có ý kiến, phản đối gì. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị P1 trình bày thời điểm năm 2009 (khi bà đang đi làm ăn tại miền N) thì bà N (mẹ anh Thế A và anh C) có gọi điện đặt vấn đề để mua mảnh vườn cho con trai chứ bà không biết mua cho ai cả. Mọi thủ tục giấy tờ là do ông Đ làm, sau đó ông Đ có thông báo cho bà là đã nhận tiền đầy đủ, vợ chồng bà đã sử dụng tiền vào việc làm nhà. Tuy nhiên, bà P1 cũng không giải thích được là tại sao năm 2009 không biết ông Đ bán đất cho ai, nhận tiền từ ai nhưng tại thời điểm năm 2019 khi chị T có yêu cầu bà đến trụ sở UBND xã H để làm thủ tục chuyển nhượng thì bà vẫn đồng ý; bà cũng không yêu cầu chị T phải trả thêm bất cứ khoản tiền nào. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà P1 cũng thừa nhận chưa bao giờ anh A yêu cầu bà làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất số 72 cho anh A. Trong khi đó, tại các lời khai ban đầu của anh Nguyễn Thế C như: “Đơn trình bày ý kiến” đề ngày 10/02/2023 (BL 128 – 130), Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 24/3/2023, ngày 10/4/2023 (BL 131-134) anh C đều trình bày tài sản chung của vợ chồng bao gồm có 04 thửa đất, trong đó có thửa đất số 72. Tại Bản tự khai ngày 05/4/2023, Biên bản ghi lời khai ngày 05/6/2023, chính bản thân anh Thế A cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu đối với thửa đất số 72 mà chỉ trình bày và yêu cầu Tòa án giải quyết quyền lợi của anh đối với các tài sản do anh xây dựng trên thửa đất số 133, tờ bản đồ số 42 tại thôn B, xã H, huyện A. Như vậy, lời khai của anh Thế A và anh C là tiền hậu bất nhất, có mâu thuẫn với lời khai của người làm chứng ông Nguyễn Thế L1, ông Nguyễn Sỹ M; mâu thuẫn với tài liệu, chứng cứ về việc giao nhận tiền, với lời khai của bà Trịnh Thị P1 nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của anh Thế A và anh C để xác định thửa đất số 72 là tài sản thuộc quyền sử dụng của anh Nguyễn Thế A mà cần căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án như lời khai ban đầu của các đương sự, hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất... để xác định thửa đất số 72 là tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Bùi Thị Phương T và anh Nguyễn Thế C như cấp sơ thẩm đã xác định là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 33, 34 Luật Hôn nhân và Gia đình. Khi phân chia tài sản liên quan đến thửa đất số 72, cấp sơ thẩm đã xác định công sức tạo lập thửa đất số 72 chủ yếu thuộc về anh C, phân chia cho anh C 60% giá trị thửa đất là đã đảm bảo quyền lợi của anh C, phù hợp với quy định tại Điều 59, 62 Luật Hôn nhân và Gia đình nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Thế C cũng như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập anh Nguyễn Thế A về nội dung này.

    Về nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Thế A về việc yêu cầu Toà án huỷ GCNQSD đất đã cấp trái pháp luật cho vợ chồng T, C nhưng không được xem xét, ghi nhận vào các biên bản, biên bản phiên toà, bản án. Xét thấy, tại đơn yêu cầu độc lập đề ngày 18/9/2023, anh Thế A chỉ yêu cầu trả lại quyền sử dụng mảnh vườn (tức thửa đất số 72) cho anh, không có yêu cầu hủy GCNQSD đất. Sau thời điểm nộp đơn yêu cầu độc lập, anh Thế A cũng không nộp đơn sửa đổi, bổ sung nội dung đơn yêu cầu độc lập. Tại phiên tòa, anh Thế A mới yêu cầu là đã vượt quá phạm vi yêu cầu độc lập ban đầu. Mặt khác, như đã phân tích ở trên, không có căn cứ để xác định quyền sử dụng thửa đất số 72 là tài sản thuộc quyền sử dụng của anh Thế A nên không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng cáo này của anh Thế A. Tuy nhiên, khi xét xử sơ thẩm, Bản án sơ thẩm đã không nhận định về lý do không chấp nhận yêu cầu hủy GCNQSD đất của anh Thế A là thiếu sót, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm về nội dung này.

    Liên quan đến thửa đất số 72: anh Nguyễn Thế A còn có nội dung kháng cáo là năm 2018, anh Thế A thuê máy múc vào san lấp mặt bằng tại thửa đất số 72 hết khoảng 400.000.000 đồng; Toà án không xem xét công sức của vợ anh (chị Nguyễn Thị Anh T2) trong việc quản lý, sử dụng, cải tạo, tôn tạo đất; chị Nguyễn Thị H còn có nội dung kháng cáo về việc xem xét công sức của vợ chồng chị trên thửa đất số 72 vì quá trình sử dụng đất chị đã có công sức tái tạo, bảo vệ đất, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại biên bản hoà giải ngày 11/01/2024, chị Anh T2 cũng trình bày thửa đất đang tranh chấp giữa anh A và vợ chồng chị Bùi Thị Phương T, anh Nguyễn Thế C là tài sản riêng của anh A nên chị không có ý kiến hay tranh chấp gì. Sau khi xét xử sơ thẩm, chị T2 cũng không kháng cáo. Tại phiên toà phúc thẩm, bản thân anh Thế A cũng trình bày số tiền anh trả cho ông Nguyễn Bá Đ và tiền thuê máy múc vào san lấp mặt bằng tại thửa đất số 72 là không liên quan đến chị T2. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, anh Thế A và chị H đã tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng đều chưa có yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết công sức đối với thửa đất số 72 cũng như chưa xuất trình các tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Do cấp sơ thẩm chưa xem xét giải quyết nên tại cấp phúc thẩm không có cơ sở để xem xét, đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu xem xét về công sức tôn tạo, bảo quản thửa đất số 72 bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

  5. [2.3]. Về nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Thế C về các khoản nợ: Theo anh C trình bày các khoản nợ anh vay anh Nguyễn Sỹ L và anh Trần Văn Y1 là dùng để trả lãi khoản vay ngân hàng, khi mua vật liệu và tiền công thợ khi làm nhà. Quá trình giải quyết vụ án, chị T không thừa nhận đây là các khoản nợ chung của vợ chồng. Tại phiên toà phúc thẩm, anh L và anh Y1 cũng thừa nhận chị T không biết đến các khoản vay này, khi vay không có giấy tờ gì vì các anh là bạn anh C. Anh C cũng không đưa ra được các tài liệu, chứng cứ chứng minh đây là nợ chung của vợ chồng nên cấp sơ thẩm không chấp nhận đây là các khoản nợ chung của vợ chồng để phân chia là có căn cứ, sau khi xét xử sơ thẩm, anh L, anh Y1 cũng không kháng cáo nên không chấp nhận nội dung kháng cáo này của anh C.
  6. [2.4]. Về nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Thế C về việc phân chia tài sản: Theo anh C việc giao thửa đất số 22, tờ bản đồ 44 cho chị T là không hợp lý vì tại ngôi nhà này đang thờ phụng ông bà anh, anh cũng không có công việc ổn định nên cần giao cho anh để anh kinh doanh buôn bán kiếm thu nhập nuôi sống mình. Xét thấy, thửa đất số 22, tờ bản đồ 43 có nguồn gốc là do anh C bán tài sản riêng của anh C có trước thời kỳ hôn nhân để mua, sau đó nhập vào tài sản chung vợ chồng, trên thửa đất này hiện nay có nhà và một số tài sản khác do vợ chồng anh C, chị T tạo lập. Nay ly hôn, anh C có nguyện vọng được phân chia thửa đất số 22 để làm nơi kinh doanh còn chị T đang có công việc ổn định, không làm nghề kinh doanh buôn bán. Xét thấy, yêu cầu này của anh C là hoàn toàn chính đáng, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của các bên; tại thửa đất số 140 hiện nay cũng đang có nhà nên vẫn đảm bảo chỗ ở cho mẹ con chị T. Do đó, cần chấp nhận một phần nội dung kháng cáo này của anh C, sửa Bản án sơ thẩm:
  • - Giao cho anh C được sở hữu, sử dụng các tài sản trên đất và thửa đất số 22, tờ bản đồ số 43, diện tích 231m² tại thôn B, xã H, huyện A và thửa đất số 72, tờ bản đồ số 49, diện tích 1.800m² tại thôn I (nay là thôn B), xã H, huyện A. Trong đó các tài sản trên đất của thửa đất số 22 bao gồm 01 ngôi nhà dạng ốt xây bằng gạch táp lô, trần thạch cao, lợp tôn trị giá 81.026.000 đồng; mái tôn sau nhà trị giá 50.062.000 đồng; mái tôn phía trước nhà trị giá 44.830.000 đồng và quyền sử dụng thửa đất số 22 có giá trị 750.000.000 đồng; quyền sử dụng thửa đất số 72 trị giá 1.179.600.000 đồng; tổng trị giá tài sản giao cho anh Nguyễn Thế C được sở hữu, sử dụng là: 2.105.518.000 đồng.
  • - Đồng thời, giao cho chị T được sở hữu, sử dụng các tài sản trên đất và thửa đất số 140, tờ bản đồ 43, diện tích 490m² tại thôn H, xã H, huyện A và thửa đất số 133, tờ bản đồ số 44, diện tích 443,6m² tại thôn B, xã H, huyện A. Trong đó, các tài sản trên đất của thửa đất số 140 bao gồm: 01 ngôi nhà gỗ 3 gian trị giá 235.791.000 đồng; 01 nhà ở xây bằng gạch táp lô da trát hai mặt tường sơn, trần bê tông, mái lợp Pro xi măng, lát gạch liên doanh trị giá 173.625.000 đồng; Mái tôn sau nhà bếp trị giá 27.422.000 đồng; Mái tôn sau nhà trị giá 5.128.000 đồng; Nhà tắm, nhà vệ sinh trị giá 20.066.000 đồng; Giếng đào trị giá 3.089.000 đồng; Mái tôn phía trước nhà trị giá 17.282.000 đồng; Diềm mái tôn hai đầu mái tôn trước nhà 1.260.000 đồng; Cổng trước nhà trị giá 4.891.000 đồng; Bờ rào mương đá hộc, tường xây bằng gạch táp lô trị giá 11.952.000 đồng; 01 cây đu đủ trị giá 200.000 đồng; 01 cây chanh trị giá 100.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trên đất là 500.806.000 đồng. Còn quyền sử dụng thửa đất số 140 trị giá 822.600.000 đồng nên tổng giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 140 là 1.323.406.000 đồng. Và quyền sử dụng thửa đất số 133, tờ bản đồ số 44 với diện tích 443,6m² là 2.025.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản giao cho chị Bùi Thị Phương T được sở hữu, sử dụng là: 3.348.406.000 đồng.

Trong đó đối với thửa đất số 72 và thửa đất số 22 công sức tạo lập chủ yếu thuộc về anh C, phân chia cho anh C 60% giá trị thửa đất nên buộc chị T có trách nhiệm giao cho anh C số tiền chênh lệch về giá trị tài sản là 611.904.000 đồng.

  1. [2.5]. Về nội dung kháng cáo của chị Nguyễn Thị H về việc cấp sơ thẩm không xem xét công sức của vợ chồng chị trên thửa đất số 72, như đã phân tích ở trên, đương sự chưa có yêu cầu, cấp sơ thẩm chưa xem xét giải quyết, chưa ảnh hưởng đến quyền lợi của chồng chị H nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của chị H. Về nội dung kháng cáo buộc vợ chồng chị T, anh C phải trả nợ cho cả hai vợ chồng chị, Hội đồng xét thấy: tại “Đơn xin trình bày” đề ngày 10/4/2023 (BL 138), các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị H chỉ yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng anh C, chị T có trách nhiệm trả đầy đủ cho chị số tiền nợ gốc và lãi, không trình bày, yêu cầu về việc trả nợ cho chồng chị. Sau khi xét xử sơ thẩm, chồng chị H cũng không có đơn trình bày, đề nghị gửi đến Tòa án cấp phúc thẩm nên không chấp nhận nội dung kháng cáo này của chị H.
  2. [2.6]. Ngoài ra, đối với các nội dung kháng cáo của anh C, anh Thế A, chị H về các thủ tục ghi lời khai, về việc biên bản phiên toà ghi nhận không đầy đủ nội dung trình bày của các đương sự trong vụ án... là những sai sót về mặt thủ tục tố tụng của cấp sơ thẩm nhưng không làm thay đổi bản chất vụ án, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
  1. [3]. Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Hội đồng xét thấy:
  1. [3.1]. Đối với kháng nghị vượt quá yêu cầu khởi kiện: Quá trình giải quyết vụ án, qua xem xét, thẩm định đã xác định tại thửa đất số 133, tờ bản đồ số 43 tại thôn B, xã H, huyện A thì anh Nguyễn Thế A đã xây lấn sang phần đất do UBND xã H quản lý. Toà án cấp sơ thẩm đã đưa UBND xã H vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tại “Đơn xin xét xử vắng mặt” đề ngày 12/8/2024, UBND xã H cũng có ý kiến: “Đối với các công trình của anh Nguyễn Thế A xây lấn sang phần đất của UBND xã H quản lý tại thửa đất số 133, tờ bản đồ số 43 tại thôn B, xã H, huyện A, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, UBND xã H yêu cầu anh Nguyễn Thế A phải tháo dỡ phần công trình xây dựng lấn chiếm trên phần đất công do UBND xã H quản lý. Nay UBND xã đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giao công trình cho ai thì người đó phải tháo dỡ phần lấn chiếm sang đất công của UBND xã quản lý để trả lại hiện trạng ban đầu cho UBND xã. Vì phần đất lấn chiếm là phần đất do UBND xã H quản lý hành chính về đất đai tại địa phương, không phải phần đất do UBND xã sử dụng”. Như vậy, việc UBND xã H yêu cầu tháo dỡ các công trình xây dựng trên đất công là đang thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về đất đai của UBND các cấp, UBND xã H không phải là chủ thể sử dụng phần diện tích đất này nên không cần thiết phải làm thủ tục yêu cầu độc lập như nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát. Mặt khác, UBND xã cũng yêu cầu ai được giao công trình thì buộc người đó phải tháo dỡ nên khi giao quyền sử dụng, sở hữu thửa đất số 133 cùng các tài sản trên đất cho chị Bùi Thị Phương T thì cấp sơ thẩm buộc chị T bồi thường giá trị các tài sản trên đất cho anh Nguyễn Thế A đồng thời phải tháo dỡ các tài sản lấn chiếm là có căn cứ, tạo thuận lợi cho công tác thi hành án nên không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng nghị này của Viện kiểm sát.
  2. [3.2]. Đối với nội dung kháng nghị về việc điều tra, xác minh chưa đầy đủ: Như đã phân tích ở trên, quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, chị H không có yêu cầu về việc xem xét công sức của vợ chồng chị trên thửa đất số 72, cấp sơ thẩm chưa xem xét giải quyết nên việc chưa đưa anh Nguyễn Văn T6 (chồng chị H) vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chưa ảnh hưởng đến quyền lợi của anh Nguyễn Văn T6 nên không chấp nhận nội dung kháng nghị này của Viện kiểm sát. Tại phiên toà phúc thẩm ngày 15/8/2024, chị H có yêu cầu tiến hành xem xét, thẩm định, định giá các tài sản có trên thửa đất số 72 nhưng sau đó không nộp tạm ứng chi phí tố tụng nên không có cơ sở để xem xét. Chị H và anh Nguyễn Văn T6 (chồng chị H) có quyền khởi kiện yêu cầu xem xét về công sức tôn tạo, bảo quản thửa đất số 72 bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
  3. [3.3]. Về nội dung kháng nghị giải quyết vụ án chưa chính xác, chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự: như đã phân tích ở trên, bị đơn anh Nguyễn Thế C cũng kháng cáo về phương án phân chia tài sản. Tại cấp phúc thẩm, có cơ sở để phân chia thửa đất số 22 cho anh C, phân chia thửa đất số 140 cho chị T để mẹ con chị T có chỗ ở nên cần chấp nhận nội dung kháng nghị này của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, sửa bản án sơ thẩm, giao cho anh C được sở hữu, sử dụng các tài sản trên đất và thửa đất số 22, tờ bản đồ số 43, diện tích 231m² tại thôn B, xã H, huyện A và thửa đất số 72, tờ bản đồ số 49, diện tích 1.800m² tại thôn I (nay là thôn B), xã H, huyện A; giao cho chị T được sở hữu, sử dụng các tài sản trên đất và thửa đất số 140, tờ bản đồ 43, diện tích 490m² tại thôn H, xã H, huyện A và thửa đất số 133, tờ bản đồ số 44, diện tích 443,6m² tại thôn B, xã H, huyện A.
  4. [3.4] Về nội dung kháng nghị liên quan đến án phí: Cấp sơ thẩm phân chia tài sản được hưởng và phân chia nợ cho chị T, anh C nhưng lại tính án phí không chính xác, buộc anh Nguyễn Thế A phải chịu án phí có giá ngạch là vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Mặt khác, tại phiên toà phúc thẩm, có căn cứ để chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị đơn về phương án phân chia tài sản nên cần chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, sửa án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần giá trị tài sản mà mỗi đương sự được phân chia. Trong đó, phần án phí anh Thế A phải chịu là 300.000 đồng; phần án phí mà chị Bùi Thị Phương T phải chịu là: Tổng giá trị tài sản chị T được giao sở hữu, sử dụng là 3.348.406.000 đồng; sau khi trích chênh lệch tài sản cho anh C là 611.904.000 đồng thì chị T được sở hữu, sử dụng khối tài sản có giá trị là 2.736.502.000 nên án phí chia tài sản chung chị T phải chịu là 86.730.040 đồng. Về án phí thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba: Nghĩa vụ chị T phải thực hiện đối với người thứ ba là (77.500.000 đồng + 35.000.000 đồng + 114.950.000 đồng + 123.168.137 đồng) = 350.618.137 nên án phí đối với phần nghĩa vụ này chị T phải chịu là 17.530.906 đồng nên tổng án phí chị T phải chịu là 104.260.946 đồng.
  5. - Phần án phí mà anh Nguyễn Thế C phải chịu là: Tổng giá trị tài sản anh C được giao sở hữu, sử dụng là 2.105.518.000 đồng + phần trích chênh lệch tài sản mà chị T giao cho anh C là 611.904.000 đồng thì anh C được sở hữu, sử dụng khối tài sản có giá trị là 2.7 17.422.000 nê n án phí chia tài sản chung anh C phải chịu là 86.348.440 đồng. Về án phí thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba: Nghĩa vụ anh C phải thực hiện đối với người thứ ba là (77.500.000 đồng + 35.000.000 đồng + 114.950.000 đồng + 123.168.137 đồng) = 350.618.137 nên án phí đối với phần nghĩa vụ này anh C phải chịu là 17.530.906 đồng nên tổng án phí anh C phải chịu là 103.879.346 đồng.

    1. [3]. Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của anh Nguyễn Thế C được chấp nhận một phần nên anh C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thế A và chị Nguyễn Thị H không được chấp nhận nên anh A và chị H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An kháng nghị thuộc trường hợp không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 29, điểm d khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    1. [4]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Vì các lẽ trên;

    QUYẾT ĐỊNH:

    1. 1. Căn cứ vào: Điều 296; Khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
    1. 1.1. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thế A, chị Nguyễn Thị H.
    2. 1.2. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Thế C; Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, sửa Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 01 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An về phần chia tài sản chung vợ chồng.
    1. 2. Căn cứ vào Điều 51, 53, 56, 37, 59, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Các Điều 280, 463, 466 của Bộ luật Dân sự; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, các Điều 147, 157, 165, 166; 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Xử:

    1. 2.1. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thế A về việc yêu cầu chị Bùi Thị Phương T và anh Nguyễn Thế C trả lại thửa đất số 72, tờ bản đồ số 49 tại thôn I (nay là thôn B), xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An
    2. 2.2. Chia tài sản chung vợ chồng:
    1. 2.2.1. Chia cho chị Bùi Thị Phương T được sử dụng và sở hữu số tài sản sau:
      • - Quyền sử dụng thửa đất số 140, tờ bản đồ số 43 với diện tích 490,0m² tại thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An đã được UBND huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS217232 ngày 17/08/2015 mang tên Nguyễn Thế C và Bùi Thị Phương T trị giá 822.600.000 đồng.
      • Trên thửa đất số 140, tờ bản đồ số 43 có 01 ngôi nhà gỗ 3 gian trị giá 235.791.000 đồng; 01 nhà ở xây bằng gạch táp lô da trát hai mặt tường sơn, trần bê tông, mái lợp Pro xi măng, lát gạch liên doanh trị giá 173.625.000 đồng; Mái tôn sau nhà bếp trị giá 27.422.000 đồng; Mái tôn sau nhà trị giá 5.128.000 đồng; Nhà tắm, nhà vệ sinh trị giá 20.066.000 đồng; Giếng đào trị giá 3.089.000 đồng; Mái tôn phía trước nhà trị giá 17.282.000 đồng; Diềm mái tôn hai đầu mái tôn trước nhà 1.260.000 đồng; Cổng trước nhà trị giá 4.891.000 đồng; Bờ rào mương đá hộc, tường xây bằng gạch táp lô trị giá 11.952.000 đồng; 01 cây đu đủ trị giá 200.000 đồng; 01 cây chanh trị giá 100.000 đồng.

      • - Quyền sử dụng thửa đất số 133, tờ bản đồ số 44 với diện tích 443,6m² tại thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 357429 ngày 05/3/2021 mang tên Nguyễn Thế C và Bùi Thị Phương T trị giá 2.025.000.000 đồng.

      Buộc chị Bùi Thị Phương T phải tháo dỡ và trả lại 53,9m² đất, 21,1m² nhà tạm lợp mái tôn, 16,2m² nhà ống sang thửa CLN (54) và 257,1m² đất, 25,7m² nhà tạm lợp mái tôn, 50,4m² nhà ống sang thửa NCS (79), nhà vệ sinh, nhà tắm để trả lại đất cho UBND xã H nên cần được chấp nhận. Giao cho chị T phần còn lại là 90,2m² nhà ống trị giá 180.048.334 đồng, 80,9m² nhà tạm lợp mái tôn trị giá 28.088.939 đồng, M1 tôn phía trước trị giá 9.690.000 đồng; Nền bê tông trước sân trị giá 9.600.000 đồng; Diềm mái tôn bên trái ốt trị giá 7.860.000 đồng; T5 xây gạch táp lô trị giá 2.649.000 đồng; Giếng khoan trị giá 8.400.000 đồng.

      Tổng trị giá tài sản chị Bùi Thị Phương T được giao sở hữu là: 3.348.406.000 đồng nhưng buộc chị Bùi Thị Phương T có nghĩa vụ giao cho anh C số tiền chênh lệch về giá trị tài sản là 611.904.000 đồng.

      Buộc chị Bùi Thị Phương T phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Nguyễn Thế A 123.168.137 đồng.

      Về nợ chung: Chị Bùi Thị Phương T có nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân sau:

      • Trả cho ông Bùi Xuân T3 và bà Bùi Thị H3 77.500.000 đồng.
      • Trả cho anh Bùi Xuân T4 35.000.000 đồng.
      • Trả cho chị Nguyễn Thị H 114.950.000 đồng. Trong đó tiền gốc là 100.000.000 đồng, tiền lãi là 14.950.000 đồng.

      Kể từ ngày 28/3/2024 chị Bùi Thị Phương T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng vay tiền cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này.

    2. 2.2.2. Chia cho anh Nguyễn Thế C được sử dụng và sở hữu tài sản sau:
      • - Quyền sử dụng thửa đất số 22, tờ bản đồ số 44, diện tích 231.0m² tại thôn B, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA420678 ngày 04/10/2021 mang tên Nguyễn Thế C và Bùi Thị Phương T trị giá 750.000.000 đồng.
      • Trên thửa đất số 22, tờ bản đồ số 44 có 01 ngôi nhà dạng ốt xây bằng gạch táp lô, trần thạch cao, lợp tôn trị giá 81.026.000 đồng; Mái tôn sau nhà trị giá 50.062.000 đồng; Mái tôn phía trước nhà trị giá 44.830.000 đồng.

      • - Quyền sử dụng thửa đất số 72, tờ bản đồ số 49 với diện tích 1.800,0m² tại thôn I (nay là thôn B), xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An đã được UBND huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 655701 ngày 21/6/2020 mang tên Nguyễn Thế C và Bùi Thị Phương T trị giá 1.179.600.000 đồng.

      Tổng trị giá tài sản anh Nguyễn Thế C được giao sở hữu là: 2.105.518.000 đồng và anh Nguyễn Thế C được nhận số tiền chênh lệch giá trị tài sản từ chị T là 611.904.000 đồng.

      Về nợ chung: Anh Nguyễn Thế C có nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân sau:

      • Trả cho ông Bùi Xuân T3 và bà Bùi Thị H3 77.500.000 đồng.
      • Trả cho anh Bùi Xuân T4 35.000.000 đồng.
      • Trả cho chị Nguyễn Thị H 114.950.000 đồng. Trong đó tiền gốc là 100.000.000 đồng, tiền lãi là 14.950.000 đồng.

      Kể từ ngày 28/3/2024 anh Nguyễn Thế C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng vay tiền cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này.

    Buộc anh Nguyễn Thế C phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Nguyễn Thế A 123.168.137 đồng.

    Anh Nguyễn Thế A, chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T6 (chồng chị H) có quyền khởi kiện yêu cầu xem xét về công sức tôn tạo, bảo quản thửa đất số 72, tờ bản đồ số 49, diện tích 1.800,0m² tại thôn I (nay là thôn B), xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

    1. 3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
    2. 4. Các đương sự có quyền, nghĩa vụ đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
    3. 5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Chị Bùi Thị Phương T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000326 ngày 24 tháng 02 năm 2023. Chị T còn phải nộp thêm 104.260.946 đồng án phí chia tài sản.

    Anh Nguyễn Thế C phải nộp 103.879.346 đồng án phí chia tài sản chung.

    Anh Nguyễn Thế A phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 23.964.000 đồng đã nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000440 ngày 25 tháng 9 năm 2023. Anh A được nhận lại 23.664.000 đồng.

    1. 6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Thế C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nên được nhận lại 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số 0007877 ngày 22/4/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Anh Sơn. Anh Nguyễn Thế A, chị Nguyễn Thị H mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thầm anh A, chị H đã nộp theo các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007878, số 0007879 ngày 22/4/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Anh Sơn.
    2. 7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
    3. 8. Những quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
    4. 9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

    Nơi nhận:

    • - VKSND tỉnh Nghệ An;
    • - TAND huyện Anh Sơn;
    • - Chi cục THADS huyện Anh Sơn;
    • - Các đương sự,
    • - Lưu HSVA.

    TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

    THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

    Nguyễn Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HNGĐ-PT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 20/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn giữa chị T và anh C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger