|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 20/2024/DS-ST Ngày: 20/9/2024 “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | ông Tạ Thanh Tuấn; |
| Các hội thẩm nhân dân: | ông Nguyễn Văn Hải; |
| ông Trần Lương Khoa. | |
| - Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thanh Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gio Linh. | |
| - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Sỹ - Kiểm sát viên. | |
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 49/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 25/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Công Ty Cổ Phần S; địa chỉ trụ sở chính: số A đường N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
- Người đại diện theo pháp luật: ông Kanokwatpaisal N – Chức vụ: Giám đốc.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Thanh N1, sinh năm: 1991; địa chỉ: số H Quốc lộ I, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (Theo Văn bản ủy quyền số 293/2023/UQ-SVN ngày 25/10/2023); có mặt.
- - Bị đơn: ông Trần Quốc T, sinh năm: 1997; địa chỉ: thôn H, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 13/5/2024 và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 17/7/2023, ông Trần Quốc T đã ký với Công ty Cổ phần S – Chi nhánh G, Quảng Trị Hợp đồng cầm cố tài sản số GHM230701014NA21X, số đăng ký giao dịch bảo đảm trên hệ thống đăng ký trực tuyến của Cục Đ1: Giaodichbaodam/botuphap: 1528850612 theo web: http://dktructuyen.moj.gov.vn/ để cầm cố tài sản là 01 xe mô tô hai bánh BKS 74B1-276.76, loại xe Suzuki Raider; màu Bạc Đen Đ; số khung: RLSDL11ANMV158415, số máy: CGA1558511; giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 003654 do Công an huyện G, tỉnh Quảng Trị cấp ngày 10/01/2022 để nhận số tiền 16.500.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng); thời hạn cầm cố là 12 (mười hai) tháng (từ ngày 17/7/2023 – 17/7/2024); lãi suất 1,1%/tháng; lãi quá hạn (phí trễ hạn) bằng 150% lãi suất cầm cố trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; phí quản lý hồ sơ 0,5%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền; mục đích cầm cố: phục vụ tiêu dùng cá nhân. Sau khi ký hợp đồng cầm cố tài sản, do nhu cầu cần xe đi lại nên cùng ngày 17/7/2023, ông Trần Quốc T đã ký giấy mượn xe với Công ty cổ phần S Có Ngay để mượn lại xe mô tô hai bánh BKS 74B1-276.76 làm phương tiện đi lại với thời hạn là 01 (một) tháng từ 17/7/2023 - 17/8/2023; địa điểm trả xe là Chi nhánh G, Quảng Trị. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T đã thanh toán một phần tiền gốc và lãi phát sinh, nhưng từ ngày 18/01/2024 đến nay, ông T không thanh toán tiền gốc và lãi phát sinh như trong hợp đồng cầm cố đã ký và cũng không trả lại xe đã mượn cho Công ty. Mặc dù Công ty đã yêu cầu nhiều lần nhưng ông T vẫn cố tình không thực hiện việc thanh toán tiền gốc, lãi phát sinh và xe đã mượn cho Công ty.
Vì vậy, Công ty cổ phần S khởi kiện yêu cầu Toà án xử buộc ông Trần Quốc T phải thanh toán số tiền còn nợ Công ty tính đến ngày 11/5/2024 là 13.710.000 đồng (mười ba triệu bảy trăm mười nghìn đồng);
Trong đó tiền gốc: 10.003.599 đồng, tiền lãi: 447.191 đồng, phí quản lý hồ sơ: 203.269 đồng, phí bảo dưỡng và hao mòn xe khi mượn: 2.475.000 đồng. Trường hợp thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ thì Công ty Cổ Phần S Có Ngay có quyền xử lý tài sản bảo đảm là chiếc xe mô tô hai bánh biển số: 74B1-276.76 ,Loại xe: Suzuki Raider Số khung: RLSDL11ANMV158415, Số máy: CGA1558511, theo Hợp đồng cầm cố, kèm giấy mượn xe đã ký với Chi Nhánh G - Công ty Cổ Phần S Có Ngay GHM230701014NA21X ngày 17/07/2023; Buộc ông Trần Quốc T có nghĩa vụ trả lại xe đã mượn cho công ty để đảm bảo thực hiện đúng nghĩa vụ.
Tại phiên tòa, phía nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị đơn ông T có nghĩa vụ phải thanh toán cho Công ty cổ phần S có ngay số tiền còn nợ theo hợp đồng cầm cố tính đến ngày 20/9/2024 ông T còn có nghĩa vụ phải thanh toán cho Công ty cổ phần S Có Ngay số tiền gốc, lãi và lãi quá hạn là: 14.758.068đ (mười bốn triệu bảy trăm năm mươi tám nghìn không trăm sáu tám đồng), trong đó: nợ gốc: 10.003.599đ (Mười triệu không trăm linh ba nghìn năm trăm chín chín đồng), tiền lãi trong hạn: 447.191đ (Bốn trăm bốn mươi bảy nghìn một trăm chín mốt đồng), tiền lãi quá hạn: 842.278đ (T1 trăm bốn mươi hai nghìn hai trăm bảy tám đồng); phí bảo dưỡng và hao mòn xe: 7 kỳ x 495.000đ = 3.465.000đ (Ba triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
Nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với các yêu cầu: buộc bị đơn phải thanh toán đối với khoản tiền phí quản lý hồ sơ 0,5%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền là: 203,269 đồng; trường hợp thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ thì Công ty Cổ Phần S Có Ngay có quyền xử lý tài sản bảo đảm là chiếc xe mô tô hai bánh biển số: 74B1-276.76 ,Loại xe: Suzuki Raider,Số khung: RLSDL11ANMV158415, Số máy: CGA1558511, theo Hợp đồng cầm cố, kèm giấy mượn xe đã ký với Chi Nhánh G - Công ty Cổ Phần S Có Ngay GHM230701014NA21X ngày 17/07/2023; Buộc ông Trần Quốc T có nghĩa vụ trả lại xe đã mượn cho công ty để đảm bảo thực hiện đúng nghĩa vụ.
* Bị đơn ông Trần Quốc T: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông T, nhưng ông T không có mặt và cũng không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập lần hai cho ông T đến tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng ông T vẫn vắng mặt.
* Ý kiến Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án đã tiến hành tố tụng, giải quyết, xét xử vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định; người đại diện theo uỷ của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều Điều 70, 71, 86 BLTTDS; bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70 và 72 BLTTDS.
- Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 314; 463, 466, 468, 470 của BLDS; điểm b khoản 1 Điều 20 nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí. Đề nghị HĐXX tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S có ngay đối với ông Trần Quốc T về: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".
- Đình chỉ giải quyết vụ án đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gồm:
Buộc ông Trần Quốc T phải trả cho Công ty cổ phần S có ngay số tiền tính đến ngày 20/9/2024 số tiền 14.758.068đ (mười bốn triệu bảy trăm năm mươi tám nghìn không trăm sáu tám đồng), trong đó: nợ gốc: 10.003.599đ (Mười triệu không trăm linh ba nghìn năm trăm chín chín đồng), tiền lãi trong hạn: 447.191đ (Bốn trăm bốn mươi bảy nghìn một trăm chín mốt đồng), tiền lãi quá hạn: 842.278đ (T1 trăm bốn mươi hai nghìn hai trăm bảy tám đồng); phí bảo dưỡng và hao mòn xe: 3.465.000đ (Ba triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) . Ngoài ra với ông Trần Quốc T còn tiếp tục chịu lãi suất phát sinh cho đến khi trả hết khoản nợ gốc và lãi theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cầm cố đã ký kết.
Sau khi ông Trần Quốc T thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ trả số tiền phải thi hành án cho Công ty Cổ phần S có ngay thì Công ty Cổ phần S Có Ngay phải có nghĩa vụ xóa đăng ký giao dịch bảo đảm (cầm cố) đối với xe mô tô BKS 74B1-276.76, loại xe Suzuki Raider; màu Bạc Đen Đ; số khung: RLSDL11ANMV158415, số máy: CGA1558511 do Công an huyện G, tỉnh Quảng Trị cấp ngày 10/01/2022 thuộc quyền sở hữu của ông Trần Quốc T.
Buộc bị đơn phải thanh toán đối với khoản tiền phí quản lý hồ sơ 0,5%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền là: 203,269 đồng;
Buộc ông Trần Quốc T phải trả lại cho Công ty cổ phần S1 tiền có ngay 01 xe mô tô hai bánh BKS 74B1-276.76, loại xe Suzuki Raider; màu Bạc Đen Đ; số khung: RLSDL11ANMV158415, số máy: CGA1558511 do Công an huyện G, tỉnh Quảng Trị cấp ngày 10/01/2022 mang tên Trần Quốc T.
Trường hợp thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ thì Công ty Cổ Phần S Có Ngay có quyền xử lý tài sản bảo đảm là chiếc xe mô tô hai bánh biển số: 74B1-276.76 ,Loại xe: Suzuki Raider,Số khung: RLSDL11ANMV158415, Số máy: CGA1558511, theo Hợp đồng cầm cố, kèm giấy mượn xe đã ký với Chi Nhánh G - Công ty Cổ Phần S Có Ngay GHM230701014NA21X;
- Về án phí: Buộc ông Trần Quốc T phải chịu 738.000đ án phí Dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án dược thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Căn cứ đơn khởi kiện đề ngày 13/5/2024, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì ông T dùng tài sản là xe mô tô của mình cầm cố để vay của Công ty cổ phần S1 tiền có ngay số tiền 16.500.000 đồng và thỏa thuận lãi suất vay 1,1%/tháng, lãi suất quá hạn bằng lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, nên Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại thôn H, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Gio Linh thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[2] Về áp dụng pháp luật: Hợp đồng vay tài sản được hai bên giao kết và thực hiện từ sau ngày 01/01/2017, nên Hội đồng xét xử áp dụng các quy định và các điều luật của Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.
[3] Về thủ tục tố tụng:
Đối với nguyên đơn: Tại thời điểm ký hợp đồng cầm cố tài sản ngày 17/7/2023 nguyên đơn đăng ký tên Công ty TNHH S2 theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Sở kế hoạch đầu tư tỉnh N cấp ngày 29/10/2020, mã số doanh nghiệp: 2901807716, tại thời điểm khởi kiện nguyên đơn đăng ký thay đổi tên công ty là Công ty cổ phần S, theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần do Sở kế hoạch đầu tư tỉnh N cấp ngày 11/10/2023, mã số doanh nghiệp: 2901807716. Hội đồng xét xử thấy rằng nguyên đơn đã thay đổi tên vẫn giữ nguyên mã số Doanh nghiệp: 2901807716 nên xác định tên nguyên đơn là Công ty cổ phần S Có Ngay.
Đối với bị đơn: Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai Thông báo thụ lý vụ án; các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập; Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tại nơi cư trú và tại Ủy ban nhân dân xã G nơi ông Trần Quốc T cư trú theo quy định của pháp luật. Nhưng tại phiên tòa hôm nay, ông T vẫn vắng mặt lần thứ hai mà không do trở ngại khách quan hoặc vì sự kiện bất khả kháng, nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về nội dung: Vào ngày 17/7/2023 thông qua Hợp đồng cầm cố tài sản GHM230701014NA21X Chi nhánh G, Quảng Trị - Công ty TNHH S2 giải ngân cho ông Trần Quốc T vay số tiền 16.500.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Chi nhánh G - Công ty TNHH S2 nhận bảo đảm khoản tiền vay trên thông qua hợp đồng cầm cố GHM230701014NA21X với tài sản cầm cố là 01 xe mô tô hai bánh BKS 74B1-276.76, loại xe Suzuki Raider; màu Bạc Đen Đ; số khung: RLSDL11ANMV158415, số máy: CGA1558511 do Công an huyện G, tỉnh Quảng Trị cấp ngày 10/01/2022 thuộc quyền sở hữu của ông Trần Quốc T.
Ngoài ra phía bị đơn ông Trần Quốc T đã có Giấy ủy quyền ngày 17/7/2023 cho Chi nhánh G - Công ty TNHH S2 với nội dung, bên nhận ủy quyền được thay mặt bên ủy quyền “quản lý, sử dụng, định đoạt (cho thuê, bán) chiêc xe mô tô mang biển số BKS 74B1-276.76. Cũng trong ngày 17/7/2023, ông Trần Quốc T có Giấy mượn xe gửi Chi nhánh G, Quảng Trị - Công ty TNHH S2 xin mượn lại xe mô tô biển số BKS 74B1-276.76 đã được cầm cố trong thời hạn 01 tháng tính từ ngày 17/7/2023 đến 17/8/2023 phía nguyên đơn đã đồng ý và bàn giao tài sản cầm cố cho phía bị đơn.
Theo nội dung của hợp đồng cầm cố GHM230701014NA21X ngày 17/7/2023, thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày 17/7/2023 đến 17/7/2024 lãi suất cố định là 1,1%/tháng trên dư nợ thực tế, lãi suất quá hạn bằng lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền, thời hạn thanh toán định kỳ hàng tháng bao gồm tiền gốc và lãi trong hạn với số tiền 1.522.158,93 đồng vào ngày 17 hàng tháng tính từ tháng 8 năm 2023 đến tháng 7 năm 2024. Tuy nhiên kể từ ngày 18/01/2024 cho đến nay ông Trần Quốc T vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo như đúng cam kết cho dù bên nguyên đơn đã liên hệ nhiều lần nhưng phía bị đơn trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và đến nay đã quá thời hạn cầm cố. Số tiền dư nợ gốc và lãi tính đên ngày 20/9/2024 mà ông Trần Quốc Trọng chưa thanh toán là 14.758.068đ (mười bốn triệu bảy trăm năm mươi tám nghìn không trăm sáu tám đồng). Do đó, số tiền mà ông T phải trả cho nguyên đơn như sau:
- - Đối với số tiền gốc: Sau khi cầm cố tài sản, ông T đã nhận số 16.500.000 đồng (mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T không thanh toán đầy đủ cho nguyên đơn tiền gốc và lãi phát sinh theo Hợp đồng cầm cố mà các bên đã ký kết. Tính đến ngày 20/9/2024, ông T còn nợ nguyên đơn 10.003.599 đồng tiền gốc. Do ông T đã vi phạm các điều khoản đã ký trong Hợp đồng cầm cố tài sản số GHM230701014NA21X ngày 17/7/2023 là không trả nợ đúng hạn. Vì vậy, cần buộc ông T phải trả cho nguyên đơn - Công ty Cổ phần S Có Ngay số tiền gốc còn thiếu là 10.003.599 đồng là phù hợp với quy định.
- - Đối với số tiền lãi: Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T không thanh toán đầy đủ cho nguyên đơn tiền gốc và lãi phát sinh. Hội đồng xét xử thấy rằng: đây là hợp đồng vay tài sản theo quy định của BLDS, các bên có thoả thuận về lãi suất phù hợp với quy định trong Bộ luật Dân sự, nên cần chấp nhận tính lãi suất từ khi ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ kể từ ngày 18/01/2024. Ông T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thoả thuận trong hợp đồng cầm cố số GHM230701014NA21X ngày 17/7/2023 mà ông T đã ký với nguyên đơn, nên ông T phải chịu lãi trong hạn, lãi quá hạn kể từ ngày 18/01/2024 đến ngày 20/9/2024 là 1.289.469 đồng, trong đó: lãi trong hạn: 447.191 đồng, lãi quá hạn: 842.278 đồng.
- - Đối với tiền phí bảo dưỡng và hao mòn xe: Sau khi ký hợp đồng cầm cố tài sản, cùng ngày 17/7/2023, nguyên đơn và ông T có ký thoả thuận mượn xe đối với xe mô tô hai bánh BKS 74B1-276.76, loại xe Suzuki Raider; màu Bạc Đen Đ; số khung: RLSDL11ANMV158415, số máy: CGA1558511 do Công an huyện G, tỉnh Quảng Trị cấp ngày 10/01/2022 để làm phương tiện đi lại với thời hạn là 01 (một) tháng từ 17/7/2023 đến ngày 17/8/2023; các bên thỏa thuận tiền phí bảo dưỡng và hao mòn xe khi mượn ông T phải trả là 495.000/tháng (nếu thanh toán phí đúng hạn là 330.000đ/tháng); địa điểm trả xe là Chi nhánh G - tỉnh Quảng Trị, quá thời hạn mượn mà ông T không trả xe về cho chi nhánh thì vẫn phải chịu phí bảo dưỡng và hao mòn xe theo thỏa thuận. Nhưng sau khi mượn xe, ông T đã sử dụng từ đó cho đến nay ông T vẫn không trả lại xe như thoả thuận mà hai bên đã ký. Hội đồng xét xử nhận thấy, hai bên ký cam kết mượn xe là phù hợp với quy định tại Điều 314 của BLDS. Ông T đã vi phạm nghĩa vụ cam kết trong giấy mượn xe nên phía nguyên đơn yêu cầu ông T phải tiếp tục thanh toán tiền phí bảo dưỡng và hao mòn xe khi mượn tính đến ngày xét xử 20/9/2024 là 07 kỳ (tháng) với số tiền 3.465.000 đ đồng (7 kỳ x 495.000 đồng) đúng theo thỏa thuận trong Giấy mượn xe và phù hợp với quy định tại Điều 314 của BLDS nên cần chấp nhận.
Sau khi ông Trần Quốc T thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ trả số tiền phải thi hành án cho Công ty Cổ phần S có ngay thì Công ty Cổ phần S có ngay có ngay phải có nghĩa vụ xóa đăng ký giao dịch bảo đảm (cầm cố) đối với xe mô tô BKS 74B1-276.76.
Tại phiên toà, nguyên đơn đã rút một phần yêu cầu khởi kiện: buộc bị đơn phải thanh toán đối với khoản tiền phí quản lý hồ sơ 0,5%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền là: 203,269 đồng; trường hợp thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ thì Công ty Cổ Phần S Có Ngay có quyền xử lý tài sản bảo đảm là chiếc xe mô tô hai bánh biển số: 74B1-276.76 ,Loại xe: Suzuki Raider „Số khung: RLSDL11ANMV158415, Số máy: CGA1558511, theo Hợp đồng cầm cố, kèm giấy mượn xe đã ký với Chi Nhánh G - Công ty Cổ Phần S Có Ngay GHM230701014NA21X ngày 17/07/2023; buộc ông Trần Quốc T có nghĩa vụ trả lại xe đã mượn cho công ty để đảm bảo thực hiện đúng nghĩa vụ. Căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ giải quyết vụ án đối với một phần yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.
[5] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Xét thấy,Hợp đồng cầm cố tài sản số GHM230701014NA21X ngày 17/7/2023 được ký kết giữa các bên là hợp pháp, thỏa mãn điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nên ràng buộc các bên tham gia ký kết. Ông Trần Quốc T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 463, 466 Bộ luật Dân sự buộc ông Trần Quốc T phải thanh toán cho Công ty Cổ phần S có ngay số tiền tạm tính đến ngày 20/9/2024 là: 14.758.068đ (mười bốn triệu bảy trăm năm mươi tám nghìn không trăm sáu tám đồng), trong đó: nợ gốc: 10.003.599đ (Mười triệu không trăm linh ba nghìn năm trăm chín chín đồng), tiền lãi trong hạn: 447.191đ (Bốn trăm bốn mươi bảy nghìn một trăm chín mốt đồng), tiền lãi quá hạn: 842.278đ (T1 trăm bốn mươi hai nghìn hai trăm bảy tám đồng); phí bảo dưỡng và hao mòn xe: 3.465.000đ (Ba triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng). Sau khi ông Trần Quốc T thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ trả số tiền phải thi hành án cho Công ty Cổ phần S có ngay thì Công ty Cổ phần S Có Ngay phải có nghĩa vụ xóa đăng ký giao dịch bảo đảm (cầm cố) đối với xe mô tô BKS 74B1-276.76, loại xe Suzuki Raider; màu Bạc Đen Đ; số khung: RLSDL11ANMV158415, số máy: CGA1558511 do Công an huyện G, tỉnh Quảng Trị cấp ngày 10/01/2022 thuộc quyền sở hữu của ông Trần Quốc T.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ, nên ông Trần Quốc T phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên dơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 314; 463, 466, 468, 470 của BLDS; điểm b khoản 1 Điều 20 nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm. Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S có ngay đối với ông Trần Quốc T về: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".
Buộc ông Trần Quốc T phải trả cho Công ty Cổ phần S Có Ngay số tiền tính đến ngày 20/9/2024 là 14.758.068đ (mười bốn triệu bảy trăm năm mươi tám nghìn không trăm sáu tám đồng), trong đó: nợ gốc: 10.003.599đ (Mười triệu không trăm linh ba nghìn năm trăm chín chín đồng), tiền lãi trong hạn: 447.191đ (Bốn trăm bốn mươi bảy nghìn một trăm chín mốt đồng), tiền lãi quá hạn: 842.278đ (T1 trăm bốn mươi hai nghìn hai trăm bảy tám đồng); phí bảo dưỡng và hao mòn xe: 3.465.000đ (Ba triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
Sau khi ông Trần Quốc T thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ trả số tiền phải thi hành án cho Công ty Cổ phần S Có Ngay thì Công ty Cổ phần S Có Ngay phải có nghĩa vụ xóa đăng ký giao dịch bảo đảm (cầm cố) đối với xe mô tô BKS 74B1-276.76, loại xe Suzuki Raider; màu Bạc Đen Đ; số khung: RLSDL11ANMV158415, số máy: CGA1558511 do Công an huyện G, tỉnh Quảng Trị cấp ngày 10/01/2022 thuộc quyền sở hữu của ông Trần Quốc T.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (20/9/2024), ông Trần Quốc T còn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi thỏa thuận tại Hợp đồng cầm cố tài sản số GHM230701014NA21X ngày 17/7/2023 cho đến khi trả hết nợ gốc.
- Đình chỉ giải quyết vụ án đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gồm:
- Buộc bị đơn phải thanh toán đối với khoản tiền phí quản lý hồ sơ 0,5%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền là: 203,269 đồng;
- Buộc ông Trần Quốc T phải trả lại cho Công ty Cổ phần S Có Ngay 01 xe mô tô hai bánh BKS 74B1-276.76, loại xe Suzuki Raider; màu Bạc Đen Đ; số khung: RLSDL11ANMV158415, số máy: CGA1558511 do Công an tỉnh Q cấp ngày 10/01/2022 mang tên Trần Quốc T.
- Trường hợp thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ thì Công ty Cổ Phần S Có Ngay có quyền xử lý tài sản bảo đảm là chiếc xe mô tô hai bánh biển số: 74B1-276.76, Loại xe: Suzuki Raider Số khung: RLSDL11ANMV158415, Số máy: CGA1558511 do Công an huyện G, tỉnh Quảng Trị cấp ngày 10/01/2022 mang tên Trần Quốc T, theo Hợp đồng cầm cố, kèm giấy mượn xe đã ký với Chi Nhánh G - Công ty Cổ Phần S Có Ngay GHM230701014NA21X;
- Về án phí: Buộc ông Trần Quốc T phải chịu 738.000 đồng án phí DSST. Hoàn trả cho Công ty Cổ phần S1 tiền có ngay số tiền tạm ứng án phí 427.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/2023 số 0000916 ngày 23/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/9/2024); bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thanh Tuấn |
Bản án số 20/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 20/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
