|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 20/2024/HNGĐ-ST Ngày 16 tháng 9 năm 2024 V/v: “Ly hôn, nuôi con chung” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn Chí;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thìn và ông Hà Đức Trưởng.
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Văn Chí – Thẩm tra viên của Toà án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Hà Trọng Thực - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đào Thị Hồng M, sinh năm 1991;
Địa chỉ: khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Chu Văn T, sinh năm 1993;
Địa chỉ: khu D, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
[1]. Theo đơn khởi kiện ngày 15/5/2024 và lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đào Thị Hồng M trình bày:
- Về hôn nhân: Chị với anh Chu Văn T tự nguyện kết hôn vào ngày 05/6/2017, có đăng ký tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận hạnh phúc cho đến khoảng đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Từ đó đến nay, hai người đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau nữa. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm, trong cuộc sống vợ chồng không có sự hòa hợp với nhau. Chị M đã về nhà bố mẹ đẻ ở tại khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, quan hệ hôn nhân không thể hàn gắn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Chu Văn T.
- Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh T có 02 con chung: Cháu Chu Đức T1, sinh ngày 11/01/2018 và cháu Chu Đức V, sinh ngày 26/6/2023. Hiện nay hai cháu đang ở với chị M, khi ly hôn chị xin được chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cả hai con chung, chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2]. Phía Bị đơn, anh Chu Văn T vắng mặt: Tòa án nhiều lần triệu tập anh T vào các ngày 21/5/2024 và ngày 27/5/2024 nhưng anh T đều vắng mặt. Để giải quyết việc chị M xin ly hôn anh T, ngày 12/8/2024 Tòa án làm việc với đại diện UBND xã T cho biết hiện anh T cư trú tại khu D, xã T nhưng anh T thường xuyên đi làm ăn xa. Tại biên bản xác minh và biên bản làm việc với đại diện UBND xã T để giao thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập cho anh T nhưng anh T vắng mặt tại nơi cư trú nên Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại trụ sở UBND xã T, huyện T cũng như tại khu dân cư nơi anh T cư trú cụ thể như sau:
- - Ngày 12/8/2024 niêm yết thông báo Thụ lý vụ án số: 32/TB-TLVA ngày 17/5/2024 và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải.
- - Ngày 09/8/2024 niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/TB-TLVA ngày 09/8/2024.
- - Ngày 26/8/2024 niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/TB-TLVA ngày 26/8/2024.
[3]. Quan điểm của đại diện UBND xã T: Tại Biên bản làm việc ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn với đại diện UBND xã T, địa phương cung cấp như sau: Anh Chu Văn T là chồng của chị Đào Thị Hồng M, có đăng ký nhân khẩu thường trú tại khu D, xã T. Địa phương đã nhận được Thông báo, Giấy báo của Tòa án và giao lại cho anh T.
- Về tình trạng hôn nhân: Chị M và anh T chung sống hòa thuận, hạnh phúc cho đến đầu năm 2023 thì vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cả hai bên đều không chủ động và không có biện pháp hàn gắn hạnh phúc. Từ khi phát sinh mâu thuẫn đến nay chị M đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, vợ chồng sống ly thân nhau. Nay chị M có đơn khởi kiện xin được ly hôn anh T, UBND xã T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Về con chung: chị M và anh T có 02 con chung cháu Chu Đức T1, sinh ngày 11/01/2018 và cháu Chu Đức V, sinh ngày 26/6/2023. Hiện các cháu đang ở cùng với chị M. Nay hai anh chị ly hôn, UBND xã T đề nghị Toà án giải quyết đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ và trẻ em.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Chị M không đề nghị Toà án giải quyết nên địa phương không có ý kiến gì.
[4]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, Nguyên đơn đã chấp hành là đúng quy định của pháp luật; Bị đơn chấp hành chưa đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Chị M và anh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung của vợ chồng không hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn của vợ chồng không thể khắc phục, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị M; cho chị M được ly hôn anh T.
- Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình chung sống, chị M và anh T có 02 con chung là cháu Chu Đức T1, sinh ngày 11/01/2018 và cháu Chu Đức V, sinh ngày 26/6/2023. Hiện nay các cháu đang ở cùng với chị M, ngoài ra anh T cũng không có mặt tại địa phương nên cần giao hai cháu cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu khôn lớn thành niên. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị M không yêu cầu.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Do Nguyên đơn không yêu cầu và Bị đơn vắng mặt. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
- Về án phí: Chị M phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về trình tự, thủ tục tố tụng: Chị Đào Thị Hồng M có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị được ly hôn anh Chu Văn T, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn đã thực hiện việc niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho anh T, tuy nhiên hết thời hạn niêm yết, anh T vẫn không có mặt để trình bày quan điểm. Vì vậy, Tòa án xác định đây là vụ án không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, chị M có đơn xin xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
[2].Về nội dung vụ án:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh T trước khi kết hôn có thời gian tự nguyện tìm hiểu. Ngày 05/6/2017, hai bên đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, chị M cho rằng từ đầu năm 2023 vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống vợ chồng không có sự hòa hợp với nhau. Chị và anh T đã chính thức ly thân từ đầu năm 2023, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh T nên chị xin ly hôn để giải phóng cho nhau. Phía anh T, mặc dù Tòa án thực hiện việc niêm yết công khai các văn bản tố tụng và Giấy báo theo quy định nhưng anh T vẫn vắng mặt, không đến Tòa án để trình bày quan điểm.
Để thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị M và anh T Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã T thấy rằng: Lời trình bày của chị M về tình trạng hôn nhân giữa chị và anh T là hoàn toàn đúng. Đại diện địa phương cũng xác nhận chị M và anh T chung sống không hòa thuận hạnh phúc, từ năm 2023, chị M đã chính thức bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, hai bên không còn quan tâm đến nhau nữa.
Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị M và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được; hai bên không hợp tác hòa giải và không có biện pháp khắc phục tình trạng hôn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M đối với anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
2.2. Về con chung: Quá trình chung sống, chị M và anh T có con 02 chung là cháu Chu Đức T1, sinh ngày 11/01/2018 và cháu Chu Đức V, sinh ngày 26/6/2023.
Khi ly hôn, chị M xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con chung và không yêu cầu anh T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Xét thấy, chị M đang là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai con chung. Hiện nay cả hai cháu đã đủ trên 36 tháng tuổi tuy nhiên vẫn còn nhỏ và đang ở cùng với mẹ với các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, ăn học của hai cháu phát triển bình thường. Để tránh sự xáo trộn cuộc sống đối với cả hai cháu nên giao cho một bên chăm sóc là phù hợp. Ngoài ra, qua quá trình xác minh, đại diện UBND xã T đã thông tin cho Tòa án được biết, anh T thường xuyên vắng mặt tại địa phương.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin nuôi cả hai con chung của chị M là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khi chị M, anh T có yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con thì anh, chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định của pháp luật. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị M không yêu cầu.
2.3. Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết và Bị đơn vắng mặt không có quan điểm trình bày. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vụ án này. Sau này chị M, anh T có yêu cầu thì anh; chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định pháp luật
2.4. Về án phí: Chị M là nguyên đơn phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
2.5. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
2.6. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 và Danh mục án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đào Thị Hồng M. Cho chị Đào Thị Hồng M được ly hôn anh Chu Văn T.
- Về con chung: Giao cháu Chu Đức T1, sinh ngày 11/01/2018 và cháu Chu Đức V sinh ngày 26/6/2023 cho chị Đào Thị Hồng M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ tháng 9/2024 đến khi các cháu khôn lớn thành niên. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cấm cản trở.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đào Thị Hồng M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị M đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án theo Biên lai thu số 0004550 ngày 17/5/2024.
- Về quyền kháng cáo: Chị M và anh T có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
- Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đinh Văn Chí |
Bản án số 20/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 20/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị M khởi kiện ly hôn anh T
