|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2024/HS-ST
Ngày 13/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Thu Hà;
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Lê và bà Phan Thị Thúy Hằng.
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Công Tân – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa tham gia phiên tòa: ông Phan Đình Phương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/HSST ngày 26 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Xuân H, sinh năm 1996; tên gọi khác: Mực.
Nơi cư trú: thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; trình độ văn hóa: 6/12; nghề nghiệp: nông; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Xuân Q, sinh năm 1963 và bà Đào Thị N, sinh năm 1956; gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ 6; có vợ Lưu Thị Kiều O, sinh năm 1999 (đã ly hôn), chưa có con; tiền án: không; tiền sự: ngày 07/2/2024 bị Công an thành phố T xử phạt hành chính 4.000.000 đồng, chưa chấp hành nộp phạt tiền; Nhân thân: ngày 20/4/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tôi cướp giật tài sản tại Bản án số 25/2016/HSST, ngày 21/7/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản tại bản án số 60/2016/HSST, tổng hợp hình phạt của hai bản án là 04 năm 09 tháng tù, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/10/2019. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: ông Trương Quốc H1, sinh năm 1984; địa chỉ: thôn N, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Võ Thị M, sinh năm 1978; địa chỉ: thôn P, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Ông Đinh Kim H2, sinh năm 1973; địa chỉ: thôn P, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
* Người làm chứng:
- Ông Đặng Lý T, sinh năm 1987; địa chỉ: thôn N, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
- Ông Nguyễn Minh P, sinh năm 2003; địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
- Ông Trương Công Đ, sinh năm 1992; địa chỉ: thôn N, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
- Bà Võ Thị Minh H3, sinh năm 1973; địa chỉ: thôn N, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
Người làm chứng đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 09/4/2024 trên đường đi bộ về nhà, Đặng Xuân H đi ngang qua nhà máy G thuộc thôn N, xã H, huyện P của bà Võ Thị Minh H3 thì đi vào để xin việc làm. Khi vào nhà máy nhìn thấy công nhân đang tập trung làm việc, H có hỏi người làm công trong xưởng gạo thì biết chủ nhà máy gạo là bà H3 đi vắng. Hiệu đi ra khu vực cổng nhà thì nhìn thấy tại khu vực để xe (khu mái che của nhà máy G) có 01 chiếc xe mô tô biển số 78N3-3204 của ông Trương Quốc H1 (công nhân của nhà máy gạo) có chìa khóa gắn trên xe nên H nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Lợi dụng không ai để ý Hiệu lén lút ngồi lên xe mô tô, bật chìa khóa nổ máy điều khiển xe chạy đi thành phố T. Trên đường đi để không bị phát hiện, H dừng xe tháo biển số xe và gương chiếu hậu của xe mô tô vứt đi, rồi mang xe đến điểm thu mua phế liệu của bà Võ Thị M ở thôn P, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên, H nói dối bà M là xe bị mất biển số và giấy tờ nên bán phế liệu nên bà M đồng ý mua xe mô tô của H với giá 800.000 đồng. Hiệu đã tiêu sài cá nhân hết số tiền trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 26/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện P: xe mô tô biển số 78N3-3204 có giá trị 2.500.000 đồng.
Vật chứng vụ án: đã trả lại xe môtô biển số 78N3-3204, số máy VZS150FMG025008, số khung RMDC62MW7H025008, nhãn hiệu HAMCO, màu sơn Nâu cho bị hại ông Trương Quốc H1.
Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm vật chứng là 01 biển số xe mô tô số 78N3-3204 và 01 gương chiếu hậu bên trái xe mô tô trên nhưng không tìm thấy các đồ vật, tài liệu nói trên.
Về dân sự: bị hại ông H1 đã nhận lại xe môtô nên không có yêu cầu bồi thường thêm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị M không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 800.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 20/CT-VKSPH ngày 22/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa đã truy tố bị cáo Đặng Xuân H về tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Đặng Xuân H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố; bị cáo nhận thấy hành vi phạm tội của mình là trái pháp luật.
- Bị hại Trương Quốc H1 có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị M không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 800.000 đồng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo có hoàn cảnh khó khăn.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo H và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Đặng Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo H từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; về trách nhiệm dân sự công nhận sự tình nguyện của bà M không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 800.000 đồng; Về án phí bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: bị cáo H đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin lỗi bị hại, bà M về hành vi của bị cáo và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do người tham gia tố tụng cung cấp: các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập đúng trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không khiếu nại gì đối với các quyết định, văn bản tố tụng ở giai đoạn điều tra nên đều là chứng cứ hợp pháp.
[2] Bị hại ông Trương Quốc H1 có đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đinh Kim H2, những người làm chứng vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng. Đồng thời tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà M đều đề nghị xét xử vắng mặt họ. Căn cứ vào các Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, phù hợp với biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường; thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, cùng các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: vào khoảng 16 giờ ngày 09/4/2024, Đặng Xuân H đi qua nhà máy G thuộc thôn N, xã H, huyện P của bà Võ Thị Minh H3 để xin việc làm. Tại đây, H nhìn thấy tại khu vực để xe (khu mái che của nhà máy G) có 01 chiếc xe mô tô biển số 78N3-3204 của ông Trương Quốc H1 (công nhân của nhà máy gạo) có chìa khóa gắn trên xe nên H nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Lợi dụng không ai để ý Hiệu lén lút ngồi lên xe mô tô, bật chìa khóa nổ máy điều khiển xe chạy đi thành phố T. Hiệu mang xe mô tô đến điểm thu mua phế liệu của bà Võ Thị M ở thôn P, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên bán với giá 800.000 đồng và tiêu sài cá nhân hết số tiền trên. Tại bản kết luận định giá tài sản Hội đồng định giá tài sản thì xe mô tô biển số 78N3-3204 có giá trị 2.500.000 đồng.
Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, phạm tội với lỗi cố ý, chiếm đoạt tài sản của người bị hại trên 2.000.000 đồng. Do đó, bản cáo trạng số 20/CT-VKSPH ngày 22/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa truy tố bị cáo về tội: “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xử bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu ngày 20/4/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội cướp giật tài sản, ngày 21/7/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt tù của các bản án trên. Có một tiền sự ngày 07/2/2024 bị Công an thành phố T xử phạt hành chính 4.000.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng, chưa chấp hành nộp tiền phạt.
- Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra vụ án, cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt chính: bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng; có nhân thân xấu từng bị Tòa án xét xử về tội xâm phạm sở hữu đã chấp hành xong hình phạt tù, có một tiền sự gây rối trật tự công cộng chưa chấp hành nộp tiền phạt nhưng bị cáo không tu chí làm ăn, chấp hành pháp luật mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm quyền sở hữu của người khác nên cần phải xử lý nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra, mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục trực tiếp đối với bị cáo, đồng thời còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[7] Về trách nhiệm dân sự: bị hại ông Trương Quốc H1 đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà M không yêu cầu bị cáo trả lại 800.000 đồng tiền bán xe mô tô nhưng đây là số tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu của bị cáo số tiền 800.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
[8] Đối với bà Võ Thị M là người mua xe mô tô biển số 78N3-3204 do bị cáo H bán nhưng bà M không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý theo đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.
[9] Về xử lý vật chứng: đã được xử lý trong giai đoạn điều tra.
[10] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự;
- Tuyên bố: bị cáo Đặng Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đặng Xuân H 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. - Về trách nhiệm dân sự: không xem xét giải quyết.
Truy thu của bị cáo Đặng Xuân H số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước. - Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đặng Xuân H phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thị Thu Hà |
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Xuân Hiệu trộm cắp tài sản
