Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƯ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 20/2024/HS - ST

Ngày 14/08/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN – TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Văn Cói

Bà Hà Thị Hương.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quang Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Xuân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân tham gia phiên tòa:

Ông Hàn Văn Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 08 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST- HS ngày 30 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 07 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số 18/2024 ngày 17/07/2024 đối với bị cáo:

Phạm Anh T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 26 tháng 06 năm 2003 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn B và bà Trịnh Thị T1; Tiền sự: Không; Tiền án: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2023 đến ngày 29/12/2023, sau đó bị khởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

* Người bị hại:

  1. Phạm Đức M – Sinh năm: 2004. Địa chỉ: Xã H, huyện H, tỉnh Nam Định;
  2. Chu Văn T2 – Sinh năm: 1979. Địa chỉ: thôn P, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh;
  3. Trần Văn T3 – Sinh năm: 1979. Địa chỉ: thôn G, xã T, huyện V, TP .;
  4. Nguyễn Kim C1 – Sinh năm: 1985. Địa chỉ: Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An;
  5. Nguyễn Minh C2 – Sinh năm: 2001. Địa chỉ: Thôn T, Xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa;
  6. Nguyễn Văn T4 – Sinh năm: 1991. Địa chỉ: Xóm A, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
  7. Cao Văn H – Sinh năm: 2006. Địa chỉ: Thôn X, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
  8. Nguyễn Thái S – Sinh năm: 2004. Địa chỉ: Tổ A, Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước.
  9. Vũ Đoàn K – Sinh năm: 1992. Địa chỉ: Thôn E, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.
  10. Nguyễn Bá Q – Sinh năm: 1980. Địa chỉ: Căn hộ J Chung Cư H, phường A, Quận A, TP ..
  11. Nguyễn Văn K1 – Sinh năm: 1997. Địa chỉ: Tổ E, Khu A, Phường C, TP., tỉnh Quảng Ninh.
  12. Nguyễn Văn L – Sinh năm: 2000. Địa chỉ: Thôn A, Xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng.
  13. Nguyễn Đức Đ – Sinh năm: 1996. Địa chỉ: Thôn A, xã L, TP., tỉnh Hải Dương.
  14. Nguyễn Đăng Q1 – Sinh năm: 2000. Địa chỉ: Xóm Đ, xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
  15. Nguyễn Văn T5 – Sinh năm: 2005. Địa chỉ: Thôn Y, xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội.
  16. Trịnh Thanh M1 – Sinh năm: 1995. Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  17. Nguyễn Xuân T6 – Sinh năm: 1999. Địa chỉ: Thôn Q, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk.
  18. Vũ Thanh L1 - Sinh năm: 2000. Địa chỉ: Xóm C, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
  19. Bùi Minh T7 - Sinh năm: 2003. Địa chỉ: Tổ Dân Phố G, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam.
  20. Nguyễn Hoàng D – Sinh năm: 2005. Địa chỉ: Tổ B, thị trấn C, huyện M, thành phố Hà Nội.
  21. Phùng Văn H1 – Sinh năm: 2001. Địa chỉ: Thôn Đ, xã S, thị xã S, thành phố Hà Nội.
  22. Trần Đức N – Sinh năm: 1978. Địa chỉ: Xóm C, thôn T, xã L, huyện A, TP ..
  23. Nguyễn Ngọc T8 – Sinh năm: 1994. Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  24. Nguyễn Văn C3 – Sinh năm: 2002. Địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
  25. Nguyễn Văn T9 – Sinh năm: 1996. Địa chỉ: Cụm H, xã T, huyện V, TP. Hải Phòng.
  26. Nguyễn Văn Q2 – Sinh năm: 1996. Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Ninh Bình.
  27. Nguyễn Văn T4 – Sinh năm: 1985. Địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
  28. Phạm Quang H2 – Sinh năm: 1993. Địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.
  29. Nguyễn Tuấn C4 – Sinh năm: 1992. Địa chỉ: N, V, huyện Ứ, TP. Hà Nội.
  30. Lê Văn C5 – Sinh năm: 1988. Địa chỉ: D Đường H, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
  31. Nguyễn Văn M2 – Sinh năm: 1996. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
  32. Đỗ Thị T10 – Sinh năm: 1988. Địa chỉ: thôn P, xã B, huyện T, TP ..
  33. Nguyễn Trọng T11 – Sinh năm: 1994. Địa chỉ: thôn X, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  34. Lê Tuấn A – Sinh năm: 2000. Địa chỉ: 3 Đ, phường H, TP., tỉnh Lâm Đồng.

Tại phiên tòa, Tất cả những người bị hại đều vắng mặt. (Trong đó anh Bùi Minh T7, chị Đỗ Thị T10, anh Nguyễn Văn L, anh Phạm Đức M, anh Nguyễn Văn K1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản để tiêu xài cá nhân nên Phạm Anh T, sinh năm 2003 ở thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác bằng cách lừa bán pháo trên mạng xã hội. Khoảng tháng 10/2023, T sử dụng số thuê bao “rác” là 0814869434 để lập facebook "Huy P” và trang F “Chợ Pháo Hoa Tết 2024" với mục đích quảng cáo hình ảnh các loại pháo có nguồn gốc và lừa bán pháo cho khách hàng để kiếm tiền. Tiếp đó, T dùng số sim rác nói trên để lập tài khoản Z lấy tên là “Hp” và dùng số điện thoại này để nhận OTP của tài khoản Ngân hàng TMCP Đ1 (P1) số [...] mang tên Nguyễn Văn L2 (tài khoản T khai mua trên mạng xã hội Telegram). Sau khi có tài khoản ngân hàng rác, Z, Facebook, Fanpage giả trên mạng xã hội T bắt đầu giao bán hàng để chiếm đoạt tài sản. Phạm Anh T tìm kiếm ở các hội nhóm trên Facebook, người nào có nhu cầu mua thì bị cáo yêu cầu kết bạn zalo vào số zalo "rác" 0814869434 để nói chuyện, yêu cầu họ chuyển tiền mua vào tài khoản Ngân hàng TMCP Đ1 (P1) số [...] của T sử dụng rồi sẽ nhận được hàng. Nhận được tiền của người mua T lại sử dụng một ứng dụng “Giaohangtietkiem” để lập một phiếu vận đơn giả chụp gửi cho người mua và hẹn thời gian sẽ nhận được hàng. Khi đến hẹn người mua không nhận được hàng thì gọi điện đến T không nghe máy, không trả lời tin nhắn Zalo, Facebook, chặn mọi liên lạc, chiếm đoạt số tiền trên. Bằng thủ đoạn nêu trên, trong khoảng thời gian từ ngày 18/10/2023 đến ngày 25/12/2023, Phạm Anh T đã chiếm đoạt được tổng số tiền 43.340.000₫ (Bốn mươi ba triệu, ba trăm bốn mươi nghìn đồng) của 34 người bị hại, trong đó có 07 người bị chiếm đoạt số tiền trên 2.000.000 (Hai triệu) đồng.

Bản cáo trạng số 20/CT-VKSNX ngày 28/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân đã truy tố bị cáo Phạm Anh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ Luật hình sự.

Tại phiên toà tất cả những người bị hại đều vắng mặt.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt những bị hại gồm: Bùi Minh T7, chị Đỗ Thị T10, anh Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Văn K1 yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền đã chiếm đoạt.

Đối với những bị hại gồm anh Lê Văn C5 bị chiếm đoạt số tiền 2.040.000 đồng, Nguyễn Văn M2 số tiền 4.500.000 đồng, Phạm Đức M số tiền 2.460.000 đồng, Nguyễn Minh C2 số tiền 860.000 đồng và Nguyễn Văn T4 số tiền là 2.180.000 đồng. Những bị hại này đã nhận lại đầy đủ số tiền mà bị cáo chiếm đoạt, không có yêu cầu gì thêm về dân sự và đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Anh Trần Văn T3, anh Nguyễn Văn T5, A Nguyễn Xuân T6, Anh Trần Đức N, Anh Nguyễn Ngọc T8, Anh Nguyễn Tuấn C4 không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã chiếm đoạt.

Đối với anh Chu Văn T2, anh Trần Văn T3, anh Nguyễn Kim C1, anh Cao Văn H, anh Nguyễn Thái S, anh Vũ Đoàn K, anh Nguyễn Bá Q, anh Nguyễn Đức Đ, anh Nguyễn Đăng Q1, anh Nguyễn Văn T5, anh Trịnh Thanh M1, anh Nguyễn Xuân T6, anh Vũ Thanh L1, anh Nguyễn Hoàng D, anh Phùng Văn H1, anh Trần Đức N, anh Nguyễn Ngọc T8, anh Nguyễn Văn C3, anh Nguyễn Văn T9, anh Nguyễn Văn Q2, anh Nguyễn Văn T4, anh Phạm Quang H2, anh Nguyễn Tuấn C4, anh Nguyễn Trọng T11, anh Lê Tuấn A. Những người này bị cáo T đều chưa bồi thường số tiền bị cáo đã chiếm đoạt.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Anh T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân vẫn giữ nguyên quan điểm về việc truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn như cáo trạng. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Phạm Anh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Áp dụng: khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Anh T từ 09 (chín) đến 12 (Mười hai) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu sung ngân sách nhà nước gồm:

  • - 01 (một) điện thoại di động Iphone Xs 64G màu vàng gold đã qua sử dụng của Phạm Anh T. Số máy MT8W2LL/A; Số Seri C38XN41BKPFR; IMEI 356169095978899; IMEI2 356169095995364.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VELL-com, màu xanh, đã qua sử dụng.

Đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 01 thẻ sim số 0814869434 chủ sở hữu là Phạm Anh T.

Về dân sự:

Phạm Anh T đã chủ động bồi thường cho bị hại gồm: Anh Lê Văn C5 số tiền 2.040.000 đồng, anh Nguyễn Văn M2 số tiền 4.500.000 đồng, anh Phạm Đức M số tiền 2.460.000 đồng, anh Nguyễn Minh C2 số tiền 860.000 đồng, anh Nguyễn Văn T4 số tiền 2.180.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo đã bồi thường: 12.040.000đồng.

Bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho những người bị hại còn lại cụ thể như sau:

Bồi thường cho Anh Chu Văn T2 số tiền 1.470.000 đồng; Anh Nguyễn Kim C1 số tiền 1.920.000đồng, Anh Cao Văn H số tiền 920.000đồng; Anh Nguyễn Thái S số tiền 1.030.000đồng; Anh Vũ Đoàn K số tiền 2.060.000đồng; Anh Nguyễn Bá Q số tiền 2.050.000đồng; Anh Nguyễn Văn K1 số tiền 2.580.000đồng; Anh Nguyễn Văn L số tiền 760.000đồng; Anh Nguyễn Đức Đại S1 tiền 450.000đồng; Anh Nguyễn Đăng Quân số tiền 380.000đồng; Anh Trịnh Thanh M1 số tiền 600.000đồng; Anh Vũ Thanh L1 số tiền 860.000đồng; Anh Bùi Minh T7 số tiền 380.000đồng; Anh Nguyễn Hoàng D số tiền 380.000đồng; Anh Nguyễn Văn C3 số tiền 1.020.000đồng; Anh Nguyễn Văn T9 số tiền 1.160.000đồng; Anh Nguyễn Văn Q2 số tiền 1.680.000đồng; Anh Nguyễn Văn T4 số tiền 550.000đồng; Anh Nguyễn Tuấn C4 số tiền 450.000đồng; Chị Đỗ Thị T10 số tiền 2.320.000đồng; Anh Nguyễn Trọng T11 số tiền 650.000đồng, Anh Lê Tuấn A số tiền 2120.000đồng. Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho những người bị hại là: 25.790.000đồng.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của những người bị hại mà những người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gồm: Anh Trần Văn T3 số tiền 660.000 đồng; Anh Nguyễn Văn T5 số tiền 960.000đồng, Anh Nguyễn Xuân T6 số tiền 820.000đồng; Anh Phùng Văn H1 số tiền 380.000đồng, Anh Trần Đức N số tiền 760.000đồng; Anh Nguyễn Ngọc T8 số tiền 1.480.000đồng; Anh Phạm Quang H2 số tiền 450.000đồng. Tổng số tiền là: 5.510.000 đồng.

Số tiền bồi thường dân sự cho bị hại và số tiền truy thu nộp ngân sách nhà nước nếu được trích từ số tiền trong các tài khoản của bị cáo đang bị phong toả. Thì số tiền còn lại trong các tài khoản này là tài sản của bị cáo, đề nghị xem xét trả lại cho bị cáo.

Trả lại số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng cho bị cáo Phạm Anh T.

Về án phí: Căn cứ Điều 6; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị buộc bị cáo Phạm Anh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không bào chữa và thống nhất không có tranh luận gì với đại diện viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Với mục đích chiếm đoạt tiền để tiêu xài cá nhân, nên trong khoảng thời gian từ tháng 10/2023 đến ngày 25/12/2023, Phạm Anh T đã sử dụng các mạng xã hội Facebook, Zalo để đăng các thông tin không đúng sự thật về việc bán các loại pháo hoa do Bộ Q3 sản xuất, sử dụng các thủ đoạn gian dối làm những người có nhu cầu mua pháo hoa tin tưởng T có pháo để bán và chuyển tiền mua pháo qua tài khoản ngân hàng rồi chiếm đoạt tài sản của những người này. Bằng hình thức này, Phạm Anh T đã chiếm đoạt tổng số tiền 43.340.000₫ (Bốn mươi ba triệu, ba trăm bốn mươi nghìn đồng) của 34 người, trong đó có 07 người bị hại bị chiếm đoạt số tiền từ 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) trở lên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với nội dung của bản cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Bị cáo Phạm Anh T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ hành vi dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tài sản là trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sở hữu tài sản của bị hại, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Với tổng số tiền chiếm đoạt của những người bị hại là 43.340.000₫ (Bốn mươi ba triệu, ba trăm bốn mươi nghìn đồng) Vì vậy, hành vi của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 của BLHS. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi và hậu quả: Bị cáo Phạm Anh T là thanh niên còn trẻ, có sức khỏe nhưng không chịu lao động, làm ăn chân chính, mà lại dùng thủ đoạn gian dối, lợi dụng sự tin tưởng của người bị hại để đăng tải thông tin không có thật nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, trong thời gian dài, diễn ra ở nhiều địa phương, nhiều tỉnh thành. Hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người bị hại mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân. Vì vậy, cần phải có đường lối xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Phạm Anh T phạm tội theo quy định tại khoản 1 điều 174 BLHS. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã cùng với gia đình khắc phục hậu quả bồi thường cho 05 người bị hại. Những người bị hại này đã làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra bị cáo đã nhờ gia đình nộp hộ cho bị cáo số tiền 20.000.000 đồng để khắc phục hậu quả bồi thường cho những người bị hại còn lại. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ thái độ ăn năn hối cải về lỗi lầm đã phạm nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Mặt khác sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện bị cáo đã ra đầu thú. Do đó bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo T phạm tội từ 02 lần trở lên. Cụ thể là bị cáo phạm tội 07 lần (Với số tiền trên 2.000.000 đồng) mặc dù các lần phạm tội của bị cáo đều là tội ít nghiêm trọng nhưng bị cáo phạm tội nhiều lần. Do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 bộ luật hình sự.

[6] Về hình phạt:

[6.1] Căn cứ vào tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội; Nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Phạm Anh T như đã nêu trên, xét thấy nếu để bị cáo cải tạo tại địa phương sẽ không đủ sức răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Do đó cần lên cho bị cáo mức án phù hợp với tính chất hành vi phạm tội để đủ sức răn đe giáo dục bị cáo đồng thời cách ly xã hội đối với bị cáo một thời gian là cần thiết, nhưng cũng cần xem xét giảm một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành người công dân lương thiện.

[6.2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Anh T là ít nghiêm trọng; Bị cáo lao động tự do không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Phạm Anh T đã chủ động bồi thường cho bị hại anh Lê Văn C5 ở V, V, Vĩnh Phúc số tiền 2.040.000 đồng, anh Nguyễn Văn M2 ở Đ, Sông L, Vĩnh Phúc số tiền 4.500.000 đồng, anh Phạm Đức M số tiền 2.460.000 đồng, anh Nguyễn Minh C2 ở T, T, tỉnh Thanh Hóa số tiền 860.000 đồng, anh Nguyễn Văn T4 ở xóm A, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa số tiền 2.180.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo đã bồi thường là: 12.040.000đ. Những người bị hại này không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với những người bị hại có yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã chiếm đoạt. Đây là yêu cầu chính đáng của những người bị hại, bị cáo chưa bồi thường số tiền đã chiếm đoạt nên cần trích trong tài khoản của bị cáo để bồi thường.

[8] Về vật chứng và biện pháp tư pháp:

Về vật chứng:

  • - 01 (một) điện thoại di động Iphone Xs 64G màu vàng gold đã qua sử dụng của Phạm Anh T. Số máy MT8W2LL/A; Số Seri C38XN41BKPFR; IMEI 356169095978899; IMEI2 356169095995364.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VELL-com, màu xanh, đã qua sử dụng chủ sở hữu là Phạm Anh T.

Xét thấy đây là công cụ phương tiện bị cáo trực tiếp sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, có giá trị sử dụng. Do đó cần tịch thu bán đấu giá sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp.

- Đối với 01 thẻ sim số 0814869434 chủ sở hữu là Phạm Anh T. Xét thấy đây là công cụ phương tiện bị cáo trực tiếp sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, hiện không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với Số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng mà mẹ bị cáo T là bà Trịnh Thị T1 giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra. Đây là tiền mẹ bị cáo T nộp hộ cho bị cáo để khắc phục hậu quả bồi thường cho những người bị hại do hành vi phạm tội của Phạm Anh T gây ra. Nhưng tổng số tiền hiện có trong các tài khoản của bị cáo bị phong toả hiện đang nhiều hơn số tiền bị cáo phải bồi thường cho những người bị hại, những người bị hại trong vụ án không có yêu cầu gì thêm về dân sự. Do đó cần trả lại số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng cho bị cáo là phù hợp.

Về biện pháp tư pháp:

Đối với tài khoản ngân hàng P1 số 1050011998714 mang tên Nguyễn Văn L2 mà Phạm Anh T sử dụng để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tại thời điểm thu giữ, trên tài khoản còn số tiền 2.298.358 đồng.

01 tài khoản Ngân hàng TMCP Đ1 (P1) số tài khoản 108002019035 khi bị thu giữ còn số tiền 77.203.133 đồng; 01 tài khoản Ngân hàng TMCP Q4 (MB) số tài khoản 0393561250 còn số tiền 9.630 đồng; 01 khoản ngân hàng TMCP Q4 (MB) số 7076030626 còn số tiền 902.703 đồng. Cả ba tài khoản này đều do Phạm Anh T lập, đứng tên chủ tài khoản và sử dụng các tài khoản này để nhận lại tiền từ tài khoản nhận tiền lừa đảo do người bị hại chuyển đến. Các tài khoản này Cơ quan điều tra đang áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản.

Hội đồng xét xử xét thấy cần mở phong toả đối với tất cả các tài khoản này để thực hiện trách nhiệm dân sự của bị cáo đối với những bị hại và tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với số tiền mà những người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường. Số tiền còn lại không liên quan đến hành vi phạm tội, là tài sản hợp pháp của bị cáo cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.

[9] Về các vấn đề khác:

Đối với tài khoản ngân hàng P1 mang tên Nguyễn Văn L2 mà Phạm Anh T sử dụng để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Quá trình điều tra, T khai mua tài khoản này trên mạng xã hội T12, còn anh Nguyễn Văn L2, sinh ngày 01/5/1993 ở thôn P, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương là người đứng tên chủ tài khoản này xác nhận đã đăng ký số tài khoản trên theo yêu cầu trên hội nhóm mạng xã hội với mục đích đăng ký tài khoản thành công để nhận tiền nhưng chưa được nhận tiền thì đã bị hội nhóm đó chặn liên lạc, Nguyễn Văn L2 không biết nhóm đó sử dụng số tài khoản của bản thân đăng ký để làm gì nên không có căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Văn L2 nên HĐXX không xem xét.

Qua kiểm tra dữ liệu sao kê tài khoản Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 (P1) số tài khoản 105001998714 mang tên NGUYEN VAN LINH, Cơ quan điều tra phát hiện có 29 giao dịch chuyển tiền đến trong khoảng thời gian từ ngày 18/10/2023 đến ngày 25/12/2023 với tổng số tiền 25.482.000 đồng; Bản thân T cũng khai nhận các giao dịch này là do người có nhu cầu mua pháo hoa đã bị T lừa, chuyển tiền cho T. Tuy nhiên, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác minh thông tin của những người thực hiện các giao dịch trên nhưng những người này đều xác định khi thực hiện giao dịch là để đổi tiền mặt cho T hoặc do người khác nhờ chuyển, không xác định được là ai nhờ nên không có đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T trong các giao dịch này. Do đó HĐXX không xem xét.

[10] Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Anh T là người bị kết án nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, những người bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 6; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Anh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Phạm Anh T 10 (Mười) tháng tù. Được trừ đi thời gian bị cáo được tạm giữ (từ ngày 26/12/2023 đến ngày 29/12/2023). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự:

Trích trong tổng số tiền tại các tài khoản của bị cáo đang bị phong toả bồi thường cho những người bị hại cụ thể như sau:

Bồi thường cho Anh Chu Văn T2, địa chỉ P, thị Trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh số tiền 1.470.000 (Một triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng); Anh Nguyễn Kim C1 địa chỉ Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An số tiền 1.920.000 (Một triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng), Anh Cao Văn H địa chỉ Thôn X, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa số tiền 920.000 (Chín trăm hai mươi nghìn đồng); Anh Nguyễn Thái S địa chỉ Tổ A, Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước số tiền 1.030.000 (Một triệu không trăm ba mươi nghìn đồng); Anh Vũ Đoàn K, địa chỉ Thôn E, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình số tiền 2.060.000 (Hai triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng); Anh Nguyễn Bá Q địa chỉ Căn hộ J Chung Cư H, phường A, Quận A, TP.Hồ Chí Minh, số tiền 2.050.000 (Hai triệu không trăm năm mươi nghìn); Anh Nguyễn Văn K1, địa chỉ Tổ E, Khu A, Phường C, TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh số tiền 2.580.000 (Hai triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng); Anh Nguyễn Văn L, địa chỉ tại thôn A, Xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng số tiền 760.000 (Bảy trăm sáu mươi nghìn đồng); Anh Nguyễn Đức Đ, địa chỉ Thôn A, xã L, TP Chí Linh, tỉnh Hải Dương số tiền 450.000 (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng); Anh Nguyễn Đăng Q1, địa chỉ Xóm Đ, xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên số tiền 380.000 (Ba trăm tám mươi nghìn đồng); Anh Trịnh Thanh M1, địa chỉ Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa số tiền 600.000 (Sáu trăm nghìn đồng); Anh Vũ Thanh L1, địa chỉ tại Xóm C, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên số tiền 860.000 (Tám trăm sáu mươi nghìn đồng); Anh Bùi Minh T7, địa chỉ Tổ Dân Phố G, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam số tiền 380.000 (Ba trăm tám mươi nghìn đồng); Anh Nguyễn Hoàng D, địa chỉ tại Tổ B, thị trấn C, huyện M, thành phố Hà Nội số tiền 380.000 (Ba trăm tám mươi nghìn đồng); Anh Nguyễn Văn C3, địa chỉ Thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận số tiền 1.020.000 (Một triệu không trăm hai mươi nghìn đồng); Anh Nguyễn Văn T9, địa chỉ Cụm H, xã T, huyện V, TP. Hải Phòng số tiền 1.160.000 (Một triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng); Anh Nguyễn Văn Q2, địa chỉ Thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Ninh Bình số tiền 1.680.000 (Một triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng); Anh Nguyễn Văn T4, địa chỉ Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định số tiền 550.000 (Năm trăm năm mươi nghìn đồng); Anh Nguyễn Tuấn C4, địa chỉ N, V, huyện Ứ, TP. Hà Nội số tiền 450.000 (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng); Chị Đỗ Thị T10, địa chỉ thôn P, xã B, huyện T, TP.Hà Nội, số tiền 2.320.000 (Hai triệu, ba trăm hai mươi nghìn đồng); Anh Nguyễn Trọng T11, địa chỉ thôn X, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền 650.000 (Sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Anh Lê Tuấn A, địa chỉ 3 Đ, phường H, TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng số tiền 2120.000 (Hai triệu, một trăm hai mươi nghìn đồng). Tổng số tiền bồi thường cho những người bị hại là: 25.790.000 (Hai mươi lăm triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng).

Về vật chứng:

  • + Tịch thu bán đấu giá sung công quỹ nhà nước gồm:
    • - 01 (một) điện thoại di động Iphone Xs 64G màu vàng gold đã qua sử dụng của Phạm Anh T. Số máy MT8W2LL/A; Số Seri C38XN41BKPFR; IMEI 356169095978899; IMEI2 356169095995364.
    • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VELL - com, màu xanh, đã qua sử dụng chủ sở hữu là Phạm Anh T.
  • + Tịch thu tiêu huỷ:
  • Đối với 01 thẻ sim số 0814869434 chủ sở hữu là Phạm Anh T.Tất cả vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân theo biên bản giao nhận vật chứng số 27/2024/TSTV ngày 05 tháng 06 năm 2024 giữa công an huyện N và chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân.

  • + Về biện pháp tư pháp:
  • - Trả lại cho Phạm Anh T số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng, theo uỷ nhiệm chi ngày 04/06/2024 của cơ quan CSĐT công an huyện N chuyển đến tài khoản tạm gửi của chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân mở tại kho bạc nhà nước huyện N và biên bản giao nhận vật chứng số 27/2024/TSTV ngày 05 tháng 06 năm 2024 giữa công an huyện N và chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân.

    - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước Đối với tổng số tiền 5.510.000 (Năm triệu năm trăm mười nghìn đồng).

    - Mở phong toả đối với các tài khoản sau: Tài khoản ngân hàng P1 số tài khoản 105001998714 mang tên Nguyễn Văn L2, trên tài khoản còn số tiền 2.298.358 đồng; Tài khoản Ngân hàng TMCP Đ1 (P1) số tài khoản 108002019035 có số tiền 77.203.133 đồng; Tài khoản Ngân hàng TMCP Q4 (MB) số tài khoản 0393561250 còn số tiền 9.630 đồng và tài khoản ngân hàng TMCP Q4 (MB) số 7076030626 còn số tiền 902.703 đồng. Tổng số dư của các tài khoản này là 80.413.824 (T13 mươi triệu, bốn trăm mười ba nghìn, tám trăm hai bốn đồng). Số tiền này được xử lý như sau: Bồi thường cho những người bị hại là: 25.790.000 (Hai mươi lăm triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng). Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền: 5.510.000 (Năm triệu, năm trăm mười nghìn đồng).- Trả lại cho bị cáo Phạm Anh T số tiền 49.313.824 (Bốn mươi chín triệu, ba trăm mười ba nghìn, tám trăm hai bốn đồng).

Về án phí: Bị cáo Phạm Anh T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/08/2024). Những người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - VKSND huyện Như Xuân;
  • - Phòng 7VKSND tỉnh Thanh Hóa.
  • - Tòa án ND tỉnh Thanh Hóa;
  • - CQĐT Công an huyện Như Xuân;
  • - Chi cục THADS huyện Như Xuân;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HS - ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN – TỈNH THANH HÓA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 20/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN – TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Anh T - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger