|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2024/DS-ST
Ngày 14-6-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
(cá nhân vay tiêu dùng)
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Nhật Chiến.
Ông Đoàn Văn Xây
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Mai Trang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Chu Thị Hương Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 16/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 02 năm 2024 về việc Tranh chấp Hợp đồng tín dụng (cá nhân vay tiêu dùng) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QÐST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/QÐST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Sài Gòn Thương Tín (Sacombank); địa chỉ: Số 266-268, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch Diễm - Chức vụ: Tổng Giám đốc. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Giáp Quang Thái - Chức vụ: Phó Giám đốc phụ trách Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Lạng Sơn; địa chỉ: Số 1, Lê Lai, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn (Văn bản ủy quyền số 3524/2023/GUQ-PL ngày 25/12/2023). Vắng mặt.
Người nhận ủy quyền lại: Bà Đỗ Thu Huyền - Chức vụ: Trưởng phòng Kiểm soát rủi ro Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Lạng Sơn; địa chỉ: Số 1, Lê Lai, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn (Theo giấy ủy quyền số 27/2024/GUQ-CNLS ngày 11/04/2024). Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nông Văn Quỳnh, sinh năm 1983; địa chỉ: Số 201, đường Ba Sơn, thôn Đồi Chè, xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ông Nông Văn Quỳnh đã ký kết với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín hai khoản vay như sau:
- Ngày 14/10/2022 ông Nông Văn Quỳnh có ký với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân, các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), loại thẻ 1022-VS payWave Cre Classic, số thẻ 472074-4036, hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, loại thẻ tín dụng này có thể được dùng để rút tiền mặt tại cây ATM hoặc được sử dụng để quẹt thẻ tại máy POS có chấp nhận thẻ tín dụng sẽ được dùng tối đa số tiền hạn mức được cấp là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng chẵn), thời hạn sử dụng thẻ từ tháng 10/2022 đến tháng 10/2027. Sau thời hạn trên khách hàng có thể đề nghị ngân hàng tiếp tục gia hạn thời gian sử dụng thẻ tiếp 05 năm. Khoản vay thẻ tín dụng là món vay tín chấp nên không có tài sản bảo đảm. Quá trình sử dụng thẻ, ông Nông Văn Quỳnh đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán quy định tại Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng nên khoản vay của ông Nông Văn Quỳnh đã được ngân hàng phân loại nợ vào nhóm nợ xấu. Đối với khoản vay này thì ông Nông Văn Quỳnh chỉ thực hiện rút tiền một lần 5.000.000 đồng và đã thanh toán 5.000.000 đồng vào ngày 10/11/2022, theo Điều 1.10 trong bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng thì dư nợ được tính là số tiền mà chủ thẻ đã sử dụng bao gồm giá trị các giao dịch, lãi và phí liên quan đến việc sử dụng thẻ, do đó tính đến ngày 13/6/2024 ông Nông Văn Quỳnh còn dư nợ gốc 306.822 đồng (gồm phí sử dụng thẻ 299.000 đồng và lãi phát sinh qua các kỳ còn nợ là 76.467 đồng).
Lãi phải trả qua các kỳ được áp dụng theo mức lãi suất mà Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín áp dụng đối với các khoản cấp tín dụng thông qua hình thức phát hành thẻ, bao gồm lãi trong hạn và lãi quá hạn. Lãi suất trong hạn là lãi suất được Ngân hàng công bố theo biểu phí trong từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn. Đối với hợp đồng này lãi suất ban đầu áp dụng 2,6%/tháng. Tổng lãi đến ngày 13/6/2024 ông Nông Văn Quỳnh còn nợ là 76.467 đồng (trong đó lãi trong hạn 50.978 đồng, lãi quá hạn 25.489 đồng).
Tổng số tiền ông Nông Văn Quỳnh còn nợ Ngân hàng tính đến ngày 13/6/2024 của loại thẻ 1022-VS payWave Cre Classic, số thẻ 472074-4036 là 383.289 đồng (trong đó gốc 306.822 đồng + lãi trong hạn 50.978 đồng + lãi quá hạn 25.489 đồng).
- Ngày 19/10/2022, ông Nông Văn Quỳnh tiếp tục ký với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD0000142845 (vay qua Sacombank pay) số thẻ 211251-3028, số tiền vay 45.000.000 đồng, thời hạn vay 24 tháng, mục đích vay tiêu dùng, phương thức vay góp đều gốc và lãi. Quá trình sử dụng thẻ ông Nông Văn Quỳnh đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán quy định tại Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng nên khoản vay của ông Nông Văn Quỳnh đã được ngân hàng phân loại nợ vào nhóm nợ xấu. Đối với khoản vay này, ngày 19/10/2022 ông Nông Văn Quỳnh thực hiện vay trên ứng dụng Sacombank Pay số tiền 45.000.000 đồng, đã thanh toán 22.380.000 đồng, theo Điều 1.10 trong bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng thì dư nợ được tính là số tiền mà chủ thẻ đã sử dụng bao gồm giá trị các giao dịch, lãi và phí liên quan đến việc sử dụng thẻ, do vậy tính đến ngày 13/6/2024 ông Nông Văn Quỳnh còn nợ gốc là 31.220.000 đồng (bao gồm số tiền chưa thanh toán là 22.620.000 đồng + các loại phí phải chịu theo hợp đồng là 1.040.000 đồng + lãi qua các kỳ tổng 7.560.000 đồng).
Lãi phải trả qua các thời kỳ được áp dụng theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ và Quyết định số 2321/2022/QĐ-TTT ngày 19/09/2022 về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ, theo đó đối với khoản vay này lãi suất trong hạn được áp dụng là 1,2%/tháng. Lãi suất quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn đã được quy đổi sang lãi suất theo phương thức giảm dần tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, tính đến ngày 13/6/2024 ông Nông Văn Quỳnh nợ lãi là 4.863.396 đồng (gồm lãi trong hạn 4.381.442 đồng, lãi quá hạn 481.954 đồng).
Tổng gốc và lãi tính đến ngày 13/6/2024 ông Nông Văn Quỳnh còn nợ Ngân hàng của số thẻ 211251-3028 là 36.083.396 đồng (trong đó gốc 31.220.000 đồng + lãi trong hạn 4.381.442 + lãi quá hạn 481.954 đồng).
Vậy, ông Nông Văn Quỳnh còn nợ ngân hàng đối với hai thẻ là: Nợ gốc 31.526.822 đồng, lãi trong hạn 4.432.420 đồng, lãi quá hạn 507.443 đồng, tổng là 36.467.000 đồng, đã làm tròn.
-
Bị đơn anh Nông Văn Quỳnh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến, không có lý do vì vậy ông Nông Văn Quỳnh không có ý kiến giải quyết vụ án.
Tại biên bản xác minh ngày 08/4/2024 tại Công an xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn thể hiện: Ông Nông Văn Quỳnh, sinh năm 1983 có số căn cước công dân [...], ngày cấp 31/12/2021, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Số 201, đường Ba Sơn, thôn Đồi Chè, xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Hiện nay, ông Nông Văn Quỳnh vẫn đang sinh sống tại địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú nêu trên, không đăng ký tạm trú, tạm vắng tại địa chỉ khác.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến, cụ thể như sau: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thành phần tham gia xét xử tại phiên tòa đúng với thành phần Hội đồng xét xử được ghi trong Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án như xác định đúng thẩm quyền, đúng tư cách các đương sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định, bị đơn mặc dù đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định.
Về nội yêu cầu khởi kiện, qua nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ cùng tài liệu chứng cứ được công khai tại phiên tòa thấy: Ngày 14/10/2022 Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và ông Nông Văn Quỳnh ký kết Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng hạn mức 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) có số thẻ 472074-4036 và ngày 19/10/2022, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và ông Nông Văn Quỳnh đã ký kết Giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số: LD0000142845, có mức tiền vay: 45.000.000 đồng, có số thẻ 211251-3028. Sau đó ông Nông Văn Quỳnh vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên khoản vay của Ông Quỳnh đã được ngân hàng phân loại nợ vào nhóm nợ xấu. Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, 117, 119, 275, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều khoản 2 Điều 91, 98 Luật Tổ chức tín dụng; Điều 7, 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín. Buộc ông Nông Văn Quỳnh phải có nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín theo hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 14/10/2022, có số thẻ 472074-4036, tổng số tiền 383.289 đồng (trong đó nợ gốc 306.822 đồng, nợ lãi trong hạn là 50.978 đồng; nợ lãi quá hạn 25.489 đồng); theo hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 19/10/2022, có số thẻ 211251-3028, tổng số tiền 36.083.396 đồng (trong đó nợ gốc 31.220.000 đồng, nợ lãi trong hạn 4.381.442 đồng; nợ lãi quá hạn 481.954 đồng). Tổng cộng 36.467.000 đồng, đã làm tròn, số liệu tính đến ngày 13/6/2024. Kể từ ngày 14/6/2024 ông Nông Văn Quỳnh còn phải tiếp tục chịu mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên đã thỏa thuận tại các hợp đồng cấp thẻ tín dụng ký kết ngày 14/10/2022 và ngày 19/10/2022 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá nghạch theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
-
[1] Về thẩm quyền: Ngày 14/10/2022, ông Nông Văn Quỳnh và Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín ký Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân) và ngày 19/10/2022, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và ông Nông Văn Quỳnh tiếp tục ký kết Giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số: LD0000142845. Ông Nông Văn Quỳnh có nơi cư trú và đăng ký hộ khẩu thường trú tại số nhà 201, đường Ba Sơn, thôn Đồi Chè, xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn.
-
[2] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhưng bị đơn ông Nông Văn Quỳnh không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
-
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Giữa Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín và ông Nông Văn Quỳnh có ký kết hai Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng gồm: Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng) ngày 14/10/2022 với hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng, có số thẻ 472074-4036, lãi phải trả qua các kỳ được áp dụng theo mức lãi suất mà Sacombank áp dụng đối với các khoản cấp tín dụng thông qua hình thức phát hành thẻ, bao gồm lãi trong hạn và lãi quá hạn. Lãi suất trong hạn là lãi suất được Ngân hàng công bố theo biểu phí trong từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn. Đối với hợp đồng này ban đầu lãi suất áp dụng 2,6%/tháng, tuy nhiên do đến tháng 11/2022 bị đơn mới thực hiện giao dịch vay tiền, thời điểm này lãi suất được áp dụng theo Quyết định số 2661 ngày 18/10/2022 là 2,77%/tháng. Lãi suất quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn theo Quyết định số 3156/2023/QĐ-TTPTSPCN ngày 24/11/2023. Mức lãi suất theo quy định trên phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hồi đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đối với Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng thứ hai là Giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ (vay qua Sacombank Pay) số LD0000142845 ngày 19/10/2022 với hạn mức vay là 45.000.000 đồng, có số thẻ 211251-3028, lãi phải trả qua các thời kỳ được áp dụng theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ và Quyết định số 2321/2022/QĐ-TTT ngày 19/09/2022 về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ, theo đó lãi suất trong hạn được áp dụng là 1,2%/tháng. Lãi suất quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn đã được quy đổi sang lãi suất theo phương thức giảm dần tại thời điểm chuyển nợ quá hạn theo Quyết định số 39/2023/QĐ-VBLQ ngày 30/8/2023, mức lãi suất này phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hồi đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Cả hai hợp đồng phát hành thẻ tín dụng nêu trên được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín với ông Nông Văn Quỳnh trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ pháp luật về nội dung và hình thức nên có hiệu lực thi hành. Quá trình thực hiện các hợp đồng trên, tháng 11/2023 ông Quỳnh đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 18, 19, 23 của bản hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 14/10/2022 và tháng 12/2022 vi phạm Điều 4, 5, 6 của bản hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 19/10/2022 bao gồm trả nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn nên Ngân hàng đã khởi kiện ra Tòa, việc khởi kiện là phù hợp với quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Theo Điều 1.10 trong bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng thì dư nợ được tính là số tiền mà chủ thẻ đã sử dụng bao gồm giá trị các giao dịch, lãi và phí liên quan đến việc sử dụng thẻ. Như vậy, trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán, tính đến ngày 13/6/2024 ông Nông Văn Quỳnh phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng gốc và lãi cụ thể:
- [3.1] Đối với thẻ 1022-VS payWave Cre Classic, số thẻ 472074-4036 ông Nông Văn Quỳnh còn nợ Ngân hàng là 383.289 đồng (trong đó gốc 306.822 đồng + lãi trong hạn 50.978 đồng + lãi quá hạn 25.489 đồng).
- [3.2] Đối với thẻ 211251-3028 ông Nông Văn Quỳnh còn nợ Ngân hàng là 36.083.396 đồng (trong đó gốc 31.220.000 đồng + lãi trong hạn 4.381.442 + lãi quá hạn 481.954 đồng).
- [3.3] Vậy, tổng ông Nông Văn Quỳnh còn nợ ngân hàng đối với hai thẻ là: Nợ gốc 31.526.822 đồng, lãi trong hạn 4.432.420 đồng, lãi quá hạn 507.443 đồng, tổng là 36.467.000 đồng, đã làm tròn. Tiền lãi phát sinh tiếp tục tính từ ngày 14/6/2024 cho đến khi ông Nông Văn Quỳnh trả xong nợ gốc cho Ngân hàng theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký.
-
[4] Về án phí, quyền kháng cáo: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn ông Nông Văn Quỳnh phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1 điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cụ thể ông Nông Văn Quỳnh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.823.000 đồng (một triệu tám trăm hai mươi ba nghìn đồng) sung ngân sách Nhà Nước. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; căn cứ các Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự; căn cứ khoản 16 Điều 4; khoản 2 Điều 91; Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hồi đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín, cụ thể:
Buộc ông Nông Văn Quỳnh phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tổng số số tiền từ hai khoản vay là 36.467.000 đồng (Ba mươi sáu triệu, bốn trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) trong đó: Nợ gốc 31.526.822 đồng, lãi trong hạn 4.432.420 đồng, lãi quá hạn 507.443 đồng, số liệu tính đến ngày 13/6/2024, trong đó: Đối với thẻ 1022-VS payWave Cre Classic, số thẻ 472074-4036 ông Nông Văn Quỳnh còn nợ Ngân hàng là 383.289 đồng (trong đó gốc 306.822 đồng + lãi trong hạn 50.978 đồng + lãi quá hạn 25.489 đồng). Đối với thẻ 211251-3028 ông Nông Văn Quỳnh còn nợ Ngân hàng là 36.083.396 đồng (trong đó gốc 31.220.000 đồng + lãi trong hạn 4.381.442 + lãi quá hạn 481.954 đồng).
Kể từ ngày 14/6/2024, ông Nông Văn Quỳnh còn phải tiếp tục trả tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hai Hợp đồng nêu trên đã được ký giữa ông Nông Văn Quỳnh và Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín cho đến khi thi hành xong khoản nợ.
Trường hợp trong hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng) ngày 14/10/2022 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ (vay qua Sacombak pay) ngày 19/10/2022 được ký giữa ông Nông Văn Quỳnh và Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Nông Văn Quỳnh phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
-
Về án phí: Ông Nông Văn Quỳnh phải chịu 1.823.000 đồng (một triệu tám trăm hai mươi ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà Nước. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí là 825.000 đồng (tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng) cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín theo biên lai thu số: 0000137 ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
-
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Nông Văn Quỳnh vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Huyền |
Bản án số 20/2024/DS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về tranh chấp hợp đồng tín dụng (cá nhân vay tiêu dùng)
- Số bản án: 20/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng (cá nhân vay tiêu dùng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
