|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2024/DS-ST
Ngày: 20-6-2024
V/v tranh chấp hợp đồng
tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tài
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Nước
Bà Bùi Thị Thu Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chăm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Kiên Thị Diệu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 130/2022/TLST-DS ngày 26 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2;
Trụ sở: Số D đường P, Phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M - Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Thúy V; chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ - Phòng xử lý nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2, “văn bản ủy quyền ngày 03 tháng 02 năm 2023” (xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Hồ Thị Út Đ, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp B, xã H, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hồ Văn K, sinh năm 1969; (xin xét xử vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Tuyết M1, sinh năm 1977; (xin xét xử vắng mặt)
- Ông Hồ Văn B, sinh năm 1983; (xin xét xử vắng mặt)
- Bà Trần Mỹ K1, sinh năm 1989; (xin xét xử vắng mặt)
- Cháu Hồ Trọng N, sinh năm 2011;
- Cháu Hồ Duy P, sinh năm 2020;
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã H, thị xã D, Trà Vinh.
- Người đại diện theo pháp luật của cháu Hồ Trọng N và Hồ Duy P: Ông Hồ Văn B, sinh năm 1983 và bà Trần Mỹ K1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp B, xã H, thị xã D, Trà Vinh. (là cha, mẹ ruột)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 21/6/2022 và bản tự khai ngày 19/6/2024, người đại diện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 thể hiện:
Bà Hồ Thị Út Đ có ký kết hợp đồng tín dụng số TD0803/HĐTD ngày 30/11/2010 để vay số tiền 120.000.000 đồng. Mục đích vay: mua bán thủy hải sản. Thời hạn vay: 12 tháng. Lãi suất: 1,8%/tháng. Lãi suất cho vay được điều chỉnh 1tháng/lần và được tính bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm VNĐ kỳ hạn 13 tháng, lãnh lãi cuối kỳ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 tại thời điểm thay đổi lãi suất cộng (+) biên độ 0,55%/tháng. Lãi suất ngày sau khi điều chỉnh không được thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu hiện hành tại đơn vị (cùng loại hình và phương thức vay). Lãi suất nợ quá hạn bằng (=) 150% lãi suất vay ngay trước thời điểm quá hạn. Lãi suất lãi chậm trả: 0,1%/số tiền lãi chậm trả và số ngày chậm trả. Hình thức thanh toán: Lãi trả hàng tháng, gốc trả phân kỳ.
Hợp đồng tín dụng nêu trên được đảm bảo bằng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TC0803/HĐTC ký ngày 30/11/2010 đã được chứng thực tại UBND xã H, huyện D (nay là Thị xã D) tỉnh Trà Vinh ngày 30/11/2010 và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 01/12/2010 tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện D (nay là Thị xã D) tỉnh Trà Vinh đúng theo quy định của pháp luật. Tài sản bảo đảm bao gồm:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P253547 do UBND huyện D, tỉnh Trà Vinh cấp ngày 06/09/2000, số thửa 319, tờ bản đồ số 03, diện tích 929m². Mục đích sử dụng: Đất T-LN, thời hạn sử dụng: lâu dài đối với đất T, đến ngày 23/02/2050 đối với đất CLN, đất ọa lạc tại xã H, thị xã D, tỉnh Trà Vinh, do bà Hồ Thị Út Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Kể từ ngày nhận tiền vay, bà Hồ Thị Út Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 theo như thỏa thuận đã ký kết tại hợp đồng tín dụng TD0803/HĐTD ngày 30/11/2010, mặc dù Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở yêu cầu nhưng bà Đ vẫn không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán theo điều khoản hợp đồng. Do đó, bà Hồ Thị Út Đ đã vi phạm hợp đồng tín dụng.
Tính đến ngày 20/06/2024 bà Hồ Thị Út Đ còn phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 số tiền cụ thể là:
- Vốn gốc: 10.000.000 đồng;
- Lãi quá hạn: 344.145.000 đồng;
- Phạt chậm trả lãi: 23.760.960 đồng
Nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải giải quyết buộc bà Hồ Thị Út Đ phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 tổng số tiền tính đến ngày 20/6/2024 là 354.145.000 đồng, trong đó nợ gốc là 10.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 344.145.000 đồng. Ngân hàng rút lại một phần yêu cầu đối với khoảng tiền phạt chậm trả lãi.
Nếu bà Hồ Thị Út Đ không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nghĩa vụ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TC0803/HĐTC ký ngày 30/11/2010 để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng.
- Tại biên bản hòa giải ngày 24/01/2024 bà Bà Hồ Thị Út Đ trình bày: Bà thừa nhận là có vay tiền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 theo như đơn khởi kiện của ngân hàng yêu cầu thì bà cũng thống nhất và cũng đồng ý trả nợ cho ngân hàng, nhưng hiện nay hoàn cảnh gặp nhiều khó khăn, chưa xoay tiền để trả nợ cho ngân hàng được nên bà xin thêm ngân hàng thời gian đến cuối tháng 5/2024 sẽ kiếm đủ tiền trả cho ngân hàng để được giảm một phần nợ, nếu đến lúc đó không trả nợ được cho ngân hàng thì bà đồng ý để Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Tuyết M1 trình bày: Căn nhà số A của bà M1 hiện nay nằm trên thửa đất 319 được xây dựng năm 2006, nguồn gốc thửa đất này là của ông bà ngoại (cha, mẹ của bà Hồ Thị Út Đ). Bà M1 biết thửa đất này do bà Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng và thế chấp vay tiền của ngân hàng. Từ trước đến nay cũng không có giấy chấp gì với bà Đ. Trong vụ án này bà không có yêu cầu độc lập và xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hồ Văn K trình bày: Ông là anh ruột của bà Hồ Thị Út Đ, thửa đất 319 hiện nay bà Đ đang thế chấp ngân hàng trước đây là của mẹ ông, do mẹ đại diện hộ gia đình đứng tên, lúc đó hộ gia đình chỉ có mẹ, ông và bà Đ. Do bà Đ cần vốn để cất nhà, còn mẹ thì cũng già yếu nên ông và mẹ mới để cho bà Đ đứng tên giấy chứng nhận để vay vốn, từ trước đến nay thửa đất 319 này chưa từng xảy ra tranh chấp, trong vụ án này ông không có yêu cầu gì, chỉ mong ngân hàng có thể cho bà Đ thêm thời gian để kiếm tiền trả nợ. Do sức khỏe không được tốt nên ông đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hồ Văn B trình bày: Ông là cháu ruột của bà Hồ Thị Út Đ, hiện nay căn nhà ông đang ở cùng với vợ và hai người con là nằm trên thửa đất do bà Đ đứng tên trong giấy đỏ, bà Đ đứng tên để vay vốn chứ thửa đất này là của 03 gia đình. Thửa đất này trước đây là của ông, bà nội để lại, còn căn nhà mà ông đang ở trước đây cũng của ông bà nội, để lại cho cha ông, sau đó ông tiếp tục ở đến nay hơn 35 năm. Lúc bà Đ đứng tên giấy đỏ và vay tiền thì ông không biết. Từ đó đến nay thì mọi người trong gia đình cũng không có tranh chấp gì đối với thửa đất này, 03 gia đình vẫn ở bình thường vì nghĩ đây là đất chung của ông, bà để lại. Trong vụ án này ông không có yêu cầu độc lập gì, để bà Đ tìm cách trả nợ cho ngân hàng để lấy giấy đỏ ra và tách thửa cho mọi người. Ông đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Trần Mỹ K1 có cùng ý kiến với chồng là ông Hồ Văn B.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với khoản tiền phạt chậm trả lãi, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phần yêu cầu đã rút. Về án phí và chi phí tố tụng, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị Hồ Thị Út Đ, triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng bà Đ vắng mặt không có lý do. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2: Theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì bà Hồ Thị Út Đ đã thừa nhận nghĩa vụ với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2, do đó đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
[3] Người đại diện của nguyên đơn tự nguyện rút lại một phần yêu cầu đối với khoản tiền phạt chậm trả lãi nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết.
[4] Đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm: Quá trình giải quyết vụ án xác định được trên thửa đất 319 có 03 căn nhà hiện nay của 03 gia đình đang ở gồm: Nhà số 140 do bà Nguyễn Thị Tuyết M1 ở; nhà số A do ông Hồ Văn K ở; nhà số A do vợ chồng ông Hồ Văn B, bà Trần Mỹ K1 và hai người con là Hồ Duy P và Hồ Trọng N đang ở. Qua lấy lời khai của những người liên quan này thì họ có biết được thửa đất 319 do bà Hồ Thị Út Đ đứng tên trong giấy chứng nhận, trước đó cũng không có tranh chấp gì về quyền sử dụng với bà Đ, tại thời điểm ký kết hợp đồng thế chấp thì thửa đất số 319 không có tranh chấp. Như vậy trường hợp trên đất có nhiều tài sản gắn liền với đất mà có tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất, có tài sản thuộc sở hữu của người khác mà người sử dụng đất chỉ thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của mình, hợp đồng thế chấp có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ vào Án lệ số 11/2017/AL thì hợp đồng thế chấp số TC0803/HĐTC ký ngày 30/11/2010 có hiệu lực pháp luật. Do đó khi xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa 319, thì bà M1, ông K và gia đình ông B được dành quyền ưu tiên mua nếu họ có nhu cầu nhận chuyển nhượng.
[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 600.000 đồng, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu khoản tiền này, buộc bà Hồ Thị Út Đ phải trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 600.000 đồng.
[6] Về án phí: Bà Hồ Thị Út Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 5% trên số tiền 354.145.000 đồng là 17.707.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 238, 244 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Các Điều 280, 463 và 466 Bộ luật dân sự;
- Điều 91 và 95 Luật các tổ chức tín dụng;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Án lệ số 11/2017/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 14 tháng 12 năm 2017 và được công bố theo Quyết định số 299/QĐ-CA ngày 28 tháng 12 năm 2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2.
- Buộc bà Hồ Thị Út Đ phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 số tiền gốc và lãi tính đến ngày 20/6/2024 là 354.145.000 đồng (Ba trăm năm mươi bốn triệu, một trăm bốn lăm nghìn đồng) trong đó nợ gốc là 10.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 344.145.000 đồng.
- Kể từ ngày 21/6/2024 bà Hồ Thị Út Đ còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh, theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng TD0803/HĐTD ngày 30/11/2010 cho đến khi thanh toán hết nợ.
- Trường hợp bà Hồ Thị Út Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TC0803/HĐTC ký ngày 30/11/2010 là quyền sử dụng đất tại thửa 319, tờ bản đồ số 3, diện tích 929m², đất ở ấp B, xã H, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Khi xử lý tài sản thế chấp thì ông Hồ Văn K; bà Nguyễn Thị Tuyết M1; vợ chồng ông Hồ Văn B, bà Trần Mỹ K1 và 02 người con là Hồ Trọng N, Hồ Duy P được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng nếu như có nhu cầu.
- Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 đối với khoản tiền phạt chậm trả lãi là 23.760.960 đồng.
- Về chi phí tố tụng: Bà Hồ Thị Út Đ phải trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 số tiền 600.000 đồng. Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 được nhận lại số tiền tạm ứng chi phí tố tụng còn thừa là 2.400.000 đồng tại Văn phòng Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hồ Thị Út Đ phải chịu 17.707.000 đồng (mười bảy triệu bảy trăm lẻ bảy nghìn đồng).
Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 số tiền tạm ứng án phí 9.245.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng số 0009885 ngày 25/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
5. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Bùi Thị Thu Thủy Trần Văn Nước |
Nguyễn Hữu Tài |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Tài |
Bản án số 20/2024/DS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 20/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
