TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 20/2024/HSST Ngày: 04/6/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Lương và bà Hồ Thị Linh.
-Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Hiền- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh Tuấn- Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế (Số E đường Đ, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2024/HSST ngày 15 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 15/5/2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Văn Q; sinh ngày 22/01/1999 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12;dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân B và bà Phạm Thị T; vợ con: Chưa có.Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 26/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Trần Thị N; sinh ngày 25/4/1994 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú:Tổ dân phố G, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Bá Q1 và bà Hoàng Thị Ngọc T1; chồng:Trần Xuân N1; con: Có 03 con, lớn nhất 07 tuổi, nhỏ nhất 02 tuổi. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 26/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Trần Thị S; sinh ngày 01/12/1966 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: TDP G, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 03/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần C và bà Lê Thị K; chồng: Ngô Chí C1, sinh năm 1960; con: có 05 con, lớn nhất 31 tuổi, nhỏ nhất 23 tuổi. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 26/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Nguyễn S1; sinh ngày 16/9/1970 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: TDP G, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Xe thồ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn T2 và bà Lê Thị H; vợ: Hoàng Thị Y; Sinh năm: 1971; con: Có 03 con, lớn nhất 29 tuổi, nhỏ nhất 12 tuổi. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra khởi tố về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Đăk Nông. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Quốc H1, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Số C N, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 03 tháng 10 năm 2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an thị xã H phối hợp với Công an phường T, thị xã H kiểm tra tại tiệm R thuộc Tổ dân phố I, phường T, thị xã H phát hiện Nguyễn S1 có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số đề với Trần Thị S. Quá trình mở rộng điều tra đã làm rõ thêm Nguyễn Văn Q và Trần Thị N có liên quan đến hành vi đánh bạc của Nguyễn S1 và Trần Thị S. Trong khoảng thời gian từ ngày 14/9/2023 đến ngày 29/9/2023, hành vi đánh bạc của các bị cáo như sau:
1. Hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn Q và Trần Thị N:
Do Trần Thị N quen biết với Nguyễn Văn Q nên khi Q nhờ giới thiệu người nào có ghi số đề thì chuyển lên Q để hưởng hoa hồng thì N đã giới thiệu Trần Thị S chuyển tịch đề cho Q. Nhàng giúp sức cho Q và S thực hiện hành vi đánh bạc với nhau, bằng cách tạo ra nhóm Z “Chị N 2” để S chuyển tịch đề cho Q và làm trung gian trong việc thanh toán tiền thắng thua giữa Q và S. Mỗi lần Q đến lấy tiền thắng từ N thì Q có đưa cho N từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Do đó, Trần Thị N phải chịu tang số chung với Nguyễn Văn Q về hành vi đánh bạc với tang số đánh bạc từ ngày 14/9/2023 đến ngày 02/10/2023 như sau:
- Ngày 14/9/2023: đánh 07 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.645.000 đồng; đánh 02 con số của Đ miền N với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề là 120.000 đồng; đánh 15 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 3.038.000 đồng.
- Ngày 15/9/2023: đánh 10 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 870.000 đồng; đánh 03 con số của Đ miền N với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề là 392.000 đồng; đánh 07 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 502.000 đồng.
- Ngày 19/9/2023: đánh 20 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 2.686.000 đồng; đánh 07 con số của Đ miền N với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề là 627.000 đồng; đánh 10 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.187.000 đồng.
- Ngày 20/9/2023: đánh 26 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 5.300.000 đồng; đánh 04 con số của Đ miền N với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề là 378.000 đồng; đánh 16 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.807.000 đồng.
- Ngày 21/9/2023: đánh 14 con số của Đ miền T với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.462.000 đồng; đánh 19 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.554.000 đồng.
- Ngày 24/9/2023: đánh 11 con số của Đ miền T với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 2.701.000 đồng; đánh 03 con số của Đ miền N với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề là 345.300 đồng; đánh 20 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 4.250.000 đồng.
- Ngày 25/9/2023: đánh 08 con số của Đài M với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.488.000 đồng; đánh 04 con số của Đ miền N với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề là 561.000 đồng; đánh 14 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 19.570.000 đồng.
- Ngày 27/9/2023: đánh 14 con số của Đ miền T với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 4.079.000 đồng; đánh 14 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 7.351.000 đồng.
- Ngày 28/9/2023: đánh 10 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.353.000 đồng; đánh 08 con số của Đ miền N với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề là 1.265.000 đồng; đánh 13 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.158.000 đồng.
- Ngày 29/9/2023: đánh 19 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 3.969.000 đồng; đánh 10 con số của Đ miền N2 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề là 1.448.000 đồng; đánh 30 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 5.713.000 đồng.
- Ngày 01/10/2023: đánh 13 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 3.251.000 đồng; đánh 05 con số của Đ miền N với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề là 297.000 đồng; đánh 20 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 2.137.000 đồng.
- Ngày 02/10/2023: đánh 09 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.856.000 đồng; đánh 15 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.112.000 đồng.
Như vậy, từ ngày 14/9/2023 đến ngày 02/10/2023, Nguyễn Văn Q, Trần Thị N, có hành vi đánh bạc cùng Trần Thị S tổng cộng 33 lượt đánh với tổng số tiền đánh và tiền trúng là 85.472.300 đồng. Trong đó, có 04 lượt đánh trên 5.000.000 đồng, tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 37.934.000 đồng. Do đó, Trần Thị N, Nguyễn Văn Q phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với tang số 37.934.000 đồng.
Thông qua hành vi đánh bạc, Q thắng với số tiền là 11.659.000 đồng, tuy nhiên Q có đưa cho N 400.000 đồng tiền để cảm ơn nên Q thu lợi bất chính số tiền 11.259.000 đồng. Trần Thị N thu lợi bất chính số tiền 400.000 đồng.
2. Hành vi đánh bạc của Trần Thị S:
Sau khi Trần Thị N lập nhóm Z “Chị N 2”, Trần Thị S đã tập hợp các số đánh, đài đánh, tiền đánh từ Nguyễn S1 và những người khách qua đường không rõ nhân thân lai lịch chuyển lên nhóm Z “Chị N 2” để hưởng tiền hoa hồng từ Nguyễn Văn Q. Ngoài ra, có một số ngày S ghi đề của S1 nhưng không chuyển lên cho Q mà giữ lại để trực tiếp thắng thua với S1. Tang số đánh bạc của Sáu từ ngày 14/9/2023 đến ngày 02/10/2023 như sau:
- Ngày 14/9/2023: đánh 07 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.645.000 đồng; đánh 02 con số của Đ miền N với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề là 120.000 đồng; đánh 20 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 10.238.000 đồng.
- Ngày 15/9/2023: đánh 10 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 870.000 đồng; đánh 03 con số của Đ miền N với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề là 392.000 đồng; đánh 07 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 502.000 đồng.
- Ngày 19/9/2023: đánh 20 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 2.686.000 đồng; đánh 07 con số của Đ miền N với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề là 627.000 đồng; đánh 10 con số của Đài M với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.187.000 đồng.
- Ngày 20/9/2023: đánh 26 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 5.300.000 đồng; đánh 04 con số của Đ miền N với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề là 378.000 đồng; đánh 16 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.807.000 đồng.
- Ngày 21/9/2023: đánh 14 con số của Đ miền T với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.462.000 đồng; đánh 19 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.554.000 đồng.
- Ngày 24/9/2023: đánh 13 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 3.706.000 đồng; đánh 03 con số của Đ miền N với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề là 345.300 đồng; đánh 20 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 4.250.00 đồng.
- Ngày 25/9/2023: đánh 08 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.488.000 đồng; đánh 04 con số của Đ miền N với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề là 561.000 đồng; đánh 14 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 19.570.000 đồng.
- Ngày 26/9/2023: đánh 03 con số của Đ miền B với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 2.500.000 đồng.
- Ngày 27/9/2023: đánh 14 con số của Đ miền T với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 4.079.000 đồng; đánh 14 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 7.351.000 đồng.
- Ngày 28/9/2023: đánh 10 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.353.000 đồng; đánh 08 con số của Đ miền N với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề là 1.265.000 đồng; đánh 13 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.158.000 đồng.
- Ngày 29/9/2023: đánh 19 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 3.969.000 đồng; đánh 10 con số của Đ miền N2 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề là 1.448.000 đồng; đánh 30 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 5.713.000 đồng.
- Ngày 01/10/2023: đánh 13 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 3.251.000 đồng; đánh 05 con số của Đ miền N với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề là 297.000 đồng; đánh 20 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 2.137.000 đồng.
- Ngày 02/10/2023: đánh 09 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.856.000 đồng; đánh 15 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.112.000 đồng.
Như vậy, từ ngày 14/9/2023 đến ngày 02/10/2023, Trần Thị S có hành vi đánh bạc 34 lượt đánh cùng Nguyễn S1, Trần Thị N, Nguyễn Văn Q với tổng số tiền đánh và tiền trúng là 96.177.300. Trong đó, có 05 lượt đánh trên 5 triệu đồng, tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 48.172.000 đồng. Do đó, Trần Thị S phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với tang số 48.172.000 đồng.
Thông qua hành vi đánh bạc, S thu lợi bất chính số tiền là 8.015.000 đồng.
3. Hành vi đánh bạc của Nguyễn S1:
Nguyễn S1 và Trần Thị S có quen biết với nhau từ trước, S1 biết S có ghi số đề nên thường gửi các con số đánh đề cho S để đánh bạc thắng thua bằng tiền. S1 sử dụng Zalo có tên “N” gửi tin nhắn có nội dung tịch đề sang Zalo của S có tên “Sau Hay”. Sau khi nhận tịch đề từ S1, S ghi lại ra giấy, sử dụng điện thoại di động để chụp ảnh lại và gửi qua cho S1 xem, xác nhận lại. Sau khi có kết quả xổ số, S1 và S đối chiếu các con số đánh đề để tính thắng thua. Với phương thức, thủ đoạn như trên, trong khoảng thời gian từ ngày 14/9/2023 đến ngày 02/10/2023, tang số đánh bạc của S1 như sau:
- Ngày 14/9/2023: đánh 02 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 810.000 đồng; đánh 05 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 7.200.000 đồng.
- Ngày 19/9/2023: đánh 02 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 540.000 đồng.
- Ngày 24/9/2023: đánh 02 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.005.000 đồng; đánh 04 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 2.400.000 đồng.
- Ngày 25/9/2023: đánh 02 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 270.000 đồng; đánh 08 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 18.900.000 đồng.
- Ngày 26/9/2023: đánh 03 con số của Đ miền B với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 2.500.000 đồng.
- Ngày 27/9/2023: đánh 03 con số của Đ miền T3 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 1.268.000 đồng; đánh 06 con số của Đ miền B1 với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 7.000.000 đồng.
- Ngày 29/9/2023: đánh 07 con số của Đ miền B với tổng số tiền đánh và tiền trúng đề 3.800.000 đồng.
Như vậy, từ ngày 14/9/2023 đến ngày 29/9/2023, Nguyễn S1 có hành vi đánh bạc cùng Trần Thị S tổng cộng 11 lượt đánh, tổng số tiền đánh và tiền trúng là 46.693.000 đồng. Trong đó, số lượt đánh bạc có tang số 5.000.000 đồng là 03 lượt, tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 33.100.000 đồng. Do đó, Nguyễn S1 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với tang số 33.100.000 đồng. Thông qua hành vi đánh bạc, Nguyễn Sơn t số tiền 5.100.000 đồng.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại Iphone 11 màu đỏ; 01 (một) điện thoại Oppo A17 màu xanh; 01 (một) điện thoại Redmi 9A màu đen; Số tiền 18.774.000đồng.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản Cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 14/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Q, Trần Thị S, Trần Thị N, Nguyễn S1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo phạm tội Đánh bạc.
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Thị N từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Thị S từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn S1 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước: số tiền 18.774.000 đồng; 01 điện thoại Iphone 11 màu đỏ; 01 điện thoại Oppo A17 màu xanh; 01 điện thoại Redmi 9A màu đen.
Buộc bị cáo Trần Thị S tiếp tục nộp số tiền 900.000 đồng thu lợi bất chính để sung ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo, người làm chứng, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Nguyễn Văn Q, Trần Thị S, Trần Thị N, Nguyễn S1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận:
Trong khoảng thời gian từ ngày 14 tháng 9 đến ngày 02 tháng 10 năm 2023, tại thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Nguyễn Văn Q, Trần Thị S,Trần Thị N, Nguyễn S1 có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số đề với tang số dùng vào mục đích đánh bạc của Nguyễn Văn Q và Trần Thị N là 37.934.000 đồng, của Trần Thị S là 48.172.000 đồng, của Nguyễn S1 là 33.100.000 đồng. Hành vi này của các bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc”. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố đối với các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Khi phạm tội, các bị cáo đều thực hiện nhiều lần đánh bạc với số tiền mỗi lần lớn hơn 5.000.000 đồng, nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng phạm tội từ 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo khi phạm tội đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đối với các bị cáo Nguyễn Văn Q, Trần Thị S, Trần Thị N đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính gồm 18.774.000 đồng, đây được xem là tình tiết giảm nhẹ khác mà các bị cáo còn được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt:
Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành cùng thực hiện tội phạm; đối với bị cáo Trần Thị N là người giúp sức cho bị cáo Q trong việc tạo nhóm để bị cáo S chuyển tịch đề cho Q và làm trung gian trong việc thanh toán tiền thắng thua, nên có vai trò đồng phạm khác là người giúp sức.
Bị cáo Q là chủ đề, trực tiếp trao đổi cho bị cáo N giới thiệu các đối tượng ghi đề (đánh bạc) nên phải chịu trách nhiệm chính; bị cáo S tập hợp đài đánh và người đánh rồi chuyển lên nhóm zalo hưởng hoa hồng đồng thời số tiền đánh bạc cao nhất nên chịu trách nhiệm sau bị cáo Q; bị cáo N trực tiếp tính tiền thắng thua và chia hoa hồng, giúp sức cho Q tạo nhóm zalo và trung gian nhận tiền thắng thua nên chịu trách nhiệm sau bị cáo S; bị cáo S1 là người trực tiếp đánh bạc bằng hình thức chơi đề thông qua Sau nên chịu trách nhiệm thấp hơn.
Các bị cáo Nguyễn Văn Q, Trần Thị S, Trần Thị N, Nguyễn S1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm thu lợi bất chính, do đó cần phải có hình phạt phù hợp để giáo dục, răn đe chung. Tuy nhiên, khi phạm tội các bị cáo đều phạm tội ít nghiêm trọng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và không có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nên không cần thiết cách ly ra khỏi xã hội, mà áp dụng hình phạt tiền cũng đủ tác dụng răn đe phòng ngừa, phù hợp với chính sách của Nhà nước khi xử lý các loại tội phạm này, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.
[6] Đối với hành vi của Nguyễn Văn Q là người nhận số lô, đề từ Trần Thị S, trực tiếp tính tiền thắng thua và chia tiền hoa hồng cho S. Trần Thị N là người giúp sức cho Nguyễn Văn Q, N đã tạo ra nhóm Zalo “Chị N 2” để Trần Thị S chuyển tịch đề cho Nguyễn Văn Q và làm trung gian trong việc thanh toán tiền thắng thua giữa Q và S. Tuy nhiên, do tang số đánh bạc trong cùng một lần dưới 20.000.000 đồng, số người đánh bạc dưới 10 người. Các bị cáo không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc nên hành vi của các đối tượng không cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điều 322 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H không xử lý hình sự Nguyễn Văn Q, Trần Thị N, Trần Thị S là có căn cứ đúng pháp luật.
[7] Đối với các hành vi đánh bạc của Nguyễn S1, Trần Thị S, Nguyễn Văn Q và Trần Thị N với tang số đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, các bị cáo không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc nên hành vi ở những lần đánh bạc này không cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã chuyển hồ sơ để xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn S1, Trần Thị S, Nguyễn Văn Q và Trần Thị N là có căn cứ pháp luật.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại Iphone 11 màu đỏ; 01 điện thoại Oppo A17 màu xanh; 01 điện thoại Redmi 9A màu đen, thuộc sở hữu của các bị cáo, là công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước; đối với số tiền 18.774.000 đồng là số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc, thu lợi bất chính nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[9] Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 8.015.000 đồng là số tiền bị cáo Trần Thị S thu lợi bất chính thông qua hành vi đánh bạc. Quá trình điều tra, bị cáo đã nộp lại số tiền 7.115.000 đồng, còn lại số tiền 900.000 bị cáo chưa nộp. Đây là khoản tiền phát sinh từ tội phạm, nên buộc bị cáo S phải tiếp tục nộp số tiền 900.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
[10] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn Q, Trần Thị S, Trần Thị N, Nguyễn S1 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với tất cả các bị cáo; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trần Thị S, Nguyễn Văn Q, Trần Thị N.
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 35.000.000 đồng.
- - Xử phạt: Bị cáo Trần Thị S 30.000.000 đồng.
- - Xử phạt: Bị cáo Trần Thị N 25.000.000 đồng.
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn S1 20.000.000 đồng.
2. Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Nguyễn Thị S2 phải nộp số tiền 900.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên bố:
- - Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: số tiền 18.774.000 đồng;
(Số tiền này được cơ quan điều tra nộp vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, theo ủy nhiệm chi ngày 17/4/2024 của Kho bạc Nhà nước thị xã H).
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Iphone 11 màu đỏ; 01 điện thoại Oppo A17 màu xanh; 01 điện thoại Redmi 9A màu đen.
(Vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/4/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà).
3.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Q, Trần Thị S, Trần Thị N, Nguyễn S1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4.Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Huế |
Bản án số 20/2024/HSST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 20/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
