Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/DS-ST.

Ngày: 20/06/2024.

V/v: “Tranh chấp hợp đồng Tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Nam.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Quí Hạc.

Bà Đào Thị Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình- Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 06 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử công khai vụ án thụ lý số 135/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 04 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng Tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 03 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 149/2024/QĐ-ST ngày 08 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V), địa chỉ: Số A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ CHí Minh.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1998, địa chỉ: Số B U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

- Bị đơn: Bà Bùi Thị Â, sinh năm 1981 và ông Nguyễn Hùng A, sinh năm 1975, địa chỉ: F, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn- Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

- Ngân hàng TMCP Q (V) – P ký với ông/bà Bùi Thị Â và Nguyễn Hùng A hợp đồng Tín dụng số 2019.0830.HĐTD.659 ngày 18/02/2019, với nội dung:

Số tiền giải ngân là 370,000,000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm bảy mươi triệu đồng); Mục đích giải ngân: Thanh toán mua 01 xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI ATTRAGE; Thời hạn vay: 96 tháng, từ ngày 19/02/2019 đến ngày 18/02/2027; Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 9.5%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 06 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm theo quy định của V tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4.1%/năm. Hoàn trả khoản vay gốc: Hàng tháng vào ngày 25, kỳ trả đầu 25/03/2019, kỳ trả cuối 18/02/2027; số tiền trả nợ gốc mỗi kỳ: 3.855.000 đồng. Số còn lại trả vào cuối kỳ; Hoàn trả lãi: Hàng tháng vào ngày 25; Trả phí: theo quy định của V từng thời kỳ; Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. V đã giải ngân cho Ông/Bà Bùi Thị Â và Nguyễn Hùng A theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 2019.0830.KUNN.659 ngày 18/02/2019 với số tiền 370,000,000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng Tín dụng. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Bùi Thị Â và Nguyễn Hùng A đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Tính đến ngày 20/06/2024, bà Bùi Thị Â và ông Nguyễn Hùng A đã thanh toán cho V số tiền là 246.973.506 đồng (trong đó: gốc là: 147.496.430 đồng, lãi là: 2.719.041 đồng, lãi quá hạn 96.758.035 đồng). Khoản vay có tài sản bảo đảm, theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 2019.0830.HĐTC.659 ngày 18/02/2019. Tuy nhiên, V không yêu cầu giải quyết đối với tài sản bảo đảm này.

- Ngân hàng TMCP Q (V) – P ký với bà Bùi Thị Â và ông Nguyễn Hùng A Hợp đồng Tín dụng số 3417755.20 ngày 20/07/2020, với nội dung: Số tiền giải ngân là 400,000,000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm triệu đồng ); Mục đích giải ngân: Thanh toán mua 01 xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI XPANDER; Thời hạn vay: 84 tháng, từ ngày 21/07/2020 đến ngày 20/07/2027; Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 9.4%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là: Lãi suất cơ sở theo sản phẩm trong kỳ+ Biên độ 4,1%/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm theo quy định của V tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4,1%/năm. Hoàn trả khoản vay gốc: Hàng tháng vào ngày 30, kỳ trả đầu 30/08/2020, số tiền trả nợ gốc mỗi kỳ: 4,765,000 đồng. Số còn lại trả vào cuối kỳ; Hoàn trả lãi: Hàng tháng vào ngày 30; Trả phí: theo quy định của V từng thời kỳ; Lãi quá hạn bằng 150 % lãi trong hạn. V đã giải ngân cho ông/bà Bùi Thị Â và Nguyễn Hùng A theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 3417755(1).20 ngày 20/07/2020 với số tiền 400,000,000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng Tín dụng. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Bùi Thị Â và Nguyễn Hùng A đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Tính đến ngày 20/06/2024, còn nợ số tiền 41.509.977 đồng (trong đó gốc là 0 đồng, lãi là 2.998.378 đồng, lãi quá hạn là 38.511.599 đồng). Khoản vay có tài sản bảo đảm, theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 6998127.20 ngày 20/07/2020. Tuy nhiên, TSBĐ đã được V thu hồi và bán thanh lý theo đúng quy định.

- Ngày 19/11/2020, bà Bùi Thị Â có đơn Đề nghị phát hành Thẻ Tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản. Theo đó, V đã phát hành thẻ Tín dụng cho bà Bùi Thị Â với hạn mức Tín dụng là: 37,000,000 đồng, loại thẻ: V, mục đích vay: tiêu dùng, lãi suất vay: theo quy định của V trong từng thời kỳ. Tính đến ngày 20/06/2024 thì dư nợ thẻ Tín dụng là 147.642.159 đồng.

VIB yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

  1. Buộc ông Nguyễn Hùng A và bà Bùi Thị Â thanh toán cho V số tiền nợ của cả 02 hợp đồng Tín dụng tính đến ngày 20/06/2024 tổng cộng là: 436.125.642 đồng, trong đó: tiền gốc là 147.496.430 đồng, lãi trong hạn là 5.717.419 đồng, lãi quá hạn là 125.269.634 đồng và tiền nợ của thẻ Tín dụng tính đến ngày 20/06/2024 là 147.642.159 đồng.
  2. Buộc ông Nguyễn Hùng A và bà Bùi Thị Â phải tiếp tục chịu tiền lãi theo theo lãi suất đã thỏa thuận trong các hợp đồng Tín dụng từ ngày 21/06/2024 cho đến khi thanh tóan xong số nợ.

Đối với các tài sản thế chấp thì không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

* Tại bản tự khai đề ngày 13 tháng 07 năm 2023, bị đơn-ông Nguyễn Hùng A trình bày:

Chiếc xe của ông đứng tên thì Ngân hàng đã lập biên bản tịch thu về để trừ nợ đã xong cách đây mấy năm mà tại sao vẫn còn tính nợ gốc nợ lãi cho ông, có khác nào Ngân hàng chiếm đoạt tài sản của ông vừa tính lãi suất cho ông. Vì xe ông vay Ngân hàng đã trả trước một khoản tương đương 30% và đóng lãi khoảng hai năm thì ông nghĩ tịch thu xe về ngân hàng thanh lý xe là hết rồi, số tiền so với giá trị xe lúc đó cũng tương đương nhau.

Chiếc xe do vợ ông là bà Bùi Thị Â đứng tên thì ông trình bày như sau: vì ông và bà Â không còn chung sống với nhau nên ông không biết những việc bà ấy làm. Và chỉ được biết là bà ấy làm ăn về dự án bất động sản và bị sụp đổ, cho nên bị giới làm ăn chung thuê người cưỡng chế xe nên ông kính mong Tòa nhờ bên Cơ quan Công an vào điều tra xem ai đã cưỡng chế chiếc xe hay ai đã cầm lại chiếc xe, ai đã tịch thu chiếc xe để thu về cho Ngân hàng. Bà Â không nói cho ông biết và không dám báo cho bên Công an vì sợ bị trả thù.

Ông bà không còn chung sống với nhau nên ông mong Tòa tách rõ phần nợ này, ai đứng tên chiếc xe nào thì người đó chịu trách nhiệm trước chiếc xe đó chứ không thể bắt chịu trách nhiệm chung như vậy.

* Bị đơn-bà Bùi Thị Â đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không hợp tác đến Tòa án giải quyết nên không có ý kiến.

* Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom:

Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, việc thu thập chứng cứ thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, đại

diện theo ủy quyền của nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- Ngân hàng Thương mại cổ phần Q. Buộc ông Nguyễn Hùng A, bà Bùi Thị Â có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) số tiền nợ tính đến ngày 20/06/2024 của Hợp đồng Tín dụng số 2019.0830.HĐTD.659 ngày 18/02/2019 với số tiền tổng cộng là 246.973.506 đồng (trong đó, nợ gốc là: 147.496.430 đồng, nợ lãi là: 2.719.041 đồng, nợ lãi quá hạn: 96.758.035 đồng) và của Hợp đồng Tín dụng số 34177 55.20 ngày 20/07/2020 với số tiền tổng cộng là 41.509.977 đồng (trong đó gốc là 0 đồng, lãi là 2.998.378 đồng, lãi quá hạn là 38.511.599 đồng). Ngoài ra, bà Bùi Thị Â có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng số tiền nợ của thẻ tín dụng tính đến ngày 20/06/2024 là 147.642.159 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q và ông Nguyễn Hùng A, bà Bùi Thị Â có ký kết Hợp đồng Tín dụng số 2019.0830.HĐTD.659 ngày 18/02/2019, Hợp đồng Tín dụng số 3417755.20 ngày 20/07/2020 và có phát hành thẻ Tín dụng cho bà Bùi Thị Â. Do ông Nguyễn Hùng A, bà Bùi Thị Â vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) khởi kiện. Do đó, quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng Tín dụng”.

[2] Thẩm quyền giải quyết: Do các đương sự “Tranh chấp hợp đồng Tín dụng”, bị đơn- ông Nguyễn Hùng A, bà Bùi Thị Â đang cư trú tại huyện T nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom theo quy định tại các Điều 26, 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn- ông Nguyễn Hùng A, bà Bùi Thị Â đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Hùng A, bà Â.

[4] Về nội dung vụ án:

[4.1] Hợp đồng Tín dụng số 2019.0830.HĐTD.659 ngày 18/02/2019 và Hợp đồng Tín dụng số 3417755.20 ngày 20/07/2020 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) và ông Nguyễn Hùng A, bà Bùi Thị Â được ký kết trên cơ sở tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật. Đề nghị phát hành thẻ Tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 19/11/2020 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) và bà Bùi Thị Â được ký kết trên cơ sở tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật.

[4.2] Đối với Hợp đồng Tín dụng số 2019.0830.HĐTD.659 ngày 18/02/2019, các bên có thỏa thuận như Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) trình bày là có căn cứ. Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì ông Nguyễn Hùng A, bà Bùi Thị Â đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và đến ngày 20/06/2024, ông Nguyễn Hùng A, bà Bùi Thị Â còn nợ của ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) số tiền 246.973.506 đồng (trong đó, nợ gốc là: 147.496.430 đồng, nợ lãi là: 2.719.041 đồng, nợ lãi quá hạn: 96.758.035 đồng)

[4.3] Đối với Hợp đồng Tín dụng số 3417755.20 ngày 20/07/2020, các bên có thỏa thuận như Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) trình bày là có căn cứ. Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì ông Nguyễn Hùng A, bà Bùi Thị Â đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và đến ngày 20/06/2024, ông Nguyễn Hùng A, bà Bùi Thị Â còn nợ của ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) số tiền 41.509.977 đồng (trong đó gốc là 0 đồng, lãi là 2.998.378 đồng, lãi quá hạn là 38.511.599 đồng).

[4.4] Đối việc việc phát hành thẻ Tín dụng theo đề nghị phát hành thẻ Tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 19/11/2020 cho bà Bùi Thị Â thì hạn mức Tín dụng là 37.000.000 (ba mươi bảy triệu) đồng, loại thẻ là VIB PLATINUM CREDIT CARD, mục đích vay: Tiêu dùng, lãi suất: theo quy định của V trong từng thời kỳ. Bà Â đã sử dụng thẻ để tiêu dùng và có dư nợ tính đến ngày 20/06/2023 là 147.642.159 đồng. Việc phát hành thẻ Tín dụng là cho riêng bà Bùi Thị Â, không có căn cứ xác định giao dịch này thuộc các trường hợp quy định Điều 27 Luật hôn nhân gia đình 2014 nhưng Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) yêu cầu buộc cả bà Bùi Thị Â và ông Nguyễn Hùng A cùng có trách nhiệm cùng trả số nợ này là không phù hợp.

[4.5] Bị đơn-bà Bùi Thị Â đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không hợp tác đến Tòa án giải quyết nên không có ý kiến. Đối với bị đơn- ông Nguyễn Hùng A sau khi trình bày ý kiến tại bản tự khai ngày 13/07/2023 thì cũng không hợp tác đến Tòa án làm việc nên cũng không có ý kiến cụ thể đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4.6] Trong quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) đã thu hồi tài sản đảm bảo là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Attrage biển số 60A-582.35 do bà Bùi Thị Â tự nguyện bàn giao. Sau khi thanh lý tài sản đảm bảo theo quy định thì thu hồi được số tiền 438.917.000 đồng. Mặc dù, chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Attrage biển số 60A-582.35 là đảm bảo cho khoản vay của hợp đồng Tín dụng số 2019.0830.HĐTD.659 ngày 18/02/2019 nhưng để giảm phát sinh nợ lãi cho ông Nguyễn Hùng A và bà Bùi Thị Â nên Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) đã dùng số tiền thanh lý chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Attrage biển số 60A-582.35 để trừ vào nợ gốc cho cả hợp đồng Tín dụng số 2019.0830.HĐTD.659 ngày 18/02/2019 với số tiền 99.299.000 đồng và hợp đồng Tín dụng số 3417766.20 ngày 20/07/2020 với số tiền 339.618.000 đồng. Xét thấy, việc khấu trừ nợ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) như trên là có lợi cho ông Hùng A, bà Â và ông Hùng A, bà Â cũng không có ý kiến gì đối với việc cấn trừ nợ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (VIB) nên việc cấn trừ nợ như trên là phù hợp.

[4.7] Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện

của nguyên đơn-Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V): Buộc ông Nguyễn Hùng A và bà Bùi Thị Â cùng có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (V) số tiền nợ tính đến ngày 20/06/2024 của Hợp đồng Tín dụng số 2019.0830.HĐTD.659 ngày 18/02/2019 với số tiền là 246.973.506 đồng (trong đó, nợ gốc là: 147.496.430 đồng, nợ lãi là: 2.719.041 đồng, nợ lãi quá hạn: 96.758.035 đồng) và của Hợp đồng Tín dụng số 3417755.20 ngày 20/07/2020 với số tiền là 41.509.977 đồng (trong đó, nợ gốc là 0 đồng, nợ lãi là 2.998.378 đồng, nợ lãi quá hạn là 38.511.599 đồng). Ngoài ra, bà Bùi Thị Â có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng số tiền nợ của thẻ Tín dụng nợ tính đến ngày 20/06/2024 là 147.642.159 đồng.

[4.7] Đối với các tài sản thế chấp thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[5] Về án phí:

[5.1] Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn-ông Nguyễn Hùng A và bà Bùi Thị Â phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với khoản nợ của Hợp đồng Tín dụng số 2019.0830.HĐTD.659 ngày 18/02/2019 và của Hợp đồng Tín dụng số 3417755.20 ngày 20/07/2020 là 14.424.000 đồng. Ngoài ra, bà Bùi Thị Â còn chịu án phí đối với khoản nợ của thẻ Tín dụng là 7.382.000 đồng.

[5.2] Hoàn trả cho nguyên đơn- Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 15.485.000 đồng theo biên lai thu số 0002743 ngày 05/04/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom.

[6] Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu chi phí tố tụng tổng cộng là 12.500.000 đồng. Do nguyên đơn- Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) đã nộp số tiền nêu trên nên bị đơn-ông Nguyễn Hùng A, bà Bùi Thị Â có trách nhiệm hoàn trả cho nguyên đơn số tiền chi phí tố tụng là 12.500.000 đồng.

[7] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 305, 471 Bộ luật dân sự năm 2005.

Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức Tín dụng.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) về việc “Tranh chấp hợp đồng Tín dụng” đối với bị đơn-ông Nguyễn Hùng A, bà Bùi Thị Â.

Buộc ông Nguyễn Hùng A, bà Bùi Thị Â phải có trách nhiệm liên đới thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) số tiền nợ tính đến ngày 20/06/2024 của Hợp đồng Tín dụng số 2019.0830.HĐTD.659 ngày 18/02/2019 với số tiền nợ gốc là 147.496.430 đồng, nợ lãi là: 2.719.041 đồng, nợ lãi quá hạn: 96.758.035 đồng, tổng cộng là 246.973.506 đồng( hai trăm bốn mươi sáu triệu chín trăm bảy mươi ba ngàn năm trăm lẻ sáu đồng) .

Buộc ông Nguyễn Hùng A, bà Bùi Thị Â phải có trách nhiệm liên đới thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) số tiền nợ tính đến ngày 20/06/2024 của Hợp đồng Tín dụng số 3417755.20 ngày 20/07/2020 với số tiền nợ gốc là 0 đồng, nợ lãi là 2.998.378 đồng, nợ lãi quá hạn là 38.511.599 đồng, tổng cộng là 41.509.977 đồng (bốn mươi mốt triệu năm trăm lẻ chín ngàn chín trăm bảy mươi bảy đồng).

Buộc Bùi Thị Â phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) số tiền nợ của thẻ Tín dụng là 147.642.159 đồng (một trăm bốn mươi bảy triệu sáu trăm bốn mươi hai ngàn một trăm năm mươi chín đồng)

Kể từ ngày 21/06/2024, ông Nguyễn Hùng A, bà Bùi Thị Â phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh đối với số tiền chậm thanh toán theo lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng Tín dụng số 2019.0830.HĐTD.659 ngày 18/02/2019, Hợp đồng Tín dụng số 3417755.20 ngày 20/07/2020 và đề nghị phát hành thẻ Tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 19/11/2020 cho từng khoản nợ cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V).

2. Về án phí:

Bị đơn- ông Nguyễn Hùng A, bà Bùi Thị Â phải liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 14.424.000 đồng (mười bốn triệu bốn trăm hai mươi bốn ngàn đồng).

Bị đơn- bà Bùi Thị Â phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 7.382.000 đồng (bảy triệu ba trăm tám mươi hai ngàn đồng)

Hoàn trả cho nguyên đơn- Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 15.485.000 (mười lăm triệu bốn trăm tám mươi lăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0002743 ngày 05/04/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom.

3. Về chi phi tố tụng: Ông Nguyễn Hùng A, bà Bùi Thị Â có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn- Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) số tiền chi phí tố tụng là 12.500.000 (mười hai triệu năm trăm ngàn) đồng.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và

9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

* Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Chi cục THADS cùng cấp;
  • - Lưu.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Ngọc Nam

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quí Hạc

Đào Thị Giang

Đào Ngọc Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/DS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 20/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng Tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Buộc ông Nguyễn Hùng Anh và bà Bùi Thị Ân thanh toán cho VIB số tiền nợ của cả 02 hợp đồng Tín dụng tính đến ngày 20/06/2024 tổng cộng là: 436.125.642 đồng, trong đó: tiền gốc là 147.496.430 đồng, lãi trong hạn là 5.717.419 đồng, lãi quá hạn là 125.269.634 đồng và tiền nợ của thẻ Tín dụng tính đến ngày 20/06/2024 là 147.642.159 đồng. 2. Buộc ông Nguyễn Hùng Anh và bà Bùi Thị Ân phải tiếp tục chịu tiền lãi theo theo lãi suất đã thỏa thuận trong các hợp đồng Tín dụng từ ngày 21/06/2024 cho đến khi thanh tóan xong số nợ.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger