Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ SƠN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 20/2024/HS-ST

Ngày 20- 6 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Kiên
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Kha Thị Thuần và ông Moong Văn Vũ
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Quang Thái Tài- Thư ký Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh Dũng- Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở UBND xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

  • + Lương Văn M; Tên gọi khác: Không, sinh ngày: 28/02/1991. Tại huyện K, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản Na Chảo, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Q(Đã chết) và bà Lô Thị M1- sinh năm: 1953; vợ con: Chưa có; tiền sự: Không;
  • Tiền án: Bản án số 36/2023/HSST, ngày 27/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt 13 (mười ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Lương Văn M chấp hành xong ra trại ngày 06/02/2024.
  • Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện K, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên toà.

+ Vi Văn H; Tên gọi khác: Không, sinh 27/11/1994. Tại huyện K, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản Na Chảo, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Văn S(Đã chết) và bà Vi Thị A- sinh năm: 1974; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo Vi Văn H bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/03/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K, tỉnh Nghệ An.

  • - Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn MVi Văn H: Ông Nguyễn Văn H1- Trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt tại phiên toà
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Vi Thị A, sinh năm 1974 Địa chỉ: Bản N, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
  • - Người chứng kiến:: Ông Lương Xuân P, sinh năm 1971 Địa chỉ: Bản X, xã H, huyện K, Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ, ngày 26/3/2024, Vi Văn H đang ở nhà mình thì Lương Văn M là người trú cùng bản, rủ đi mua ma túy về cùng sử dụng thì Vi Văn H đồng ý. Sau đó, H sử dụng chiếc xe máy EXCITER, biểm kiểm soát 37K1-038.94 chở M cùng đi. Trên đường đi, M nói H cùng góp tiền mua ma túy thì H đồng ý lấy ra 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đưa cho M. Khi MH đi vào bản Xốp nhị, xã H, huyện K thì gặp một người đàn ông không quen biết, lúc này M nói H đứng chờ, còn M một mình đi lại gặp người đàn ông đó. Sau một hồi nói chuyện, người đàn ông không quen biết đó tự giới thiệu tên là T trú tại bản Xốp Thặp, xã H, huyện K. May hỏi người đàn ông tên T đó “Có ma túy bán không?” thì người đàn ông tên T trả lời “Có, lấy bao nhiêu tiền?”, M nói “Lấy bốn trăm nghìn đồng”, rồi M lấy 400.000 đồng (trong đó 300.000 đồng là tiền của H, còn 100.000 đồng là tiền của M góp vào) đưa cho người đàn ông tên T. Người đàn ông này cầm lấy tiền rồi đưa lại cho M 01 (một) gói ma túy được gói bằng bao Potylen màu hồng. Sau khi mua được ma túy, M quay lại chỗ H đang đứng chờ, lúc này khoảng 16 giờ 20, ngày 26/3/2024; H tiếp tục chở M đi vào hướng Ủy ban nhân dân xã H để tìm nơi sử dụng ma túy, khi đi đến khu vực bản X, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An, thì bị tổ công tác Công an huyện K phối hợp với Công an xã H kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ tại bàn tay phải của bị cáo M 01 (Một) bao Potylen màu hồng, bên trong gồm: 01 (một) bao Potylen màu trắng bên trong có chứa chất màu trắng (nghi là ma túy) và 01 (một) bao Potylen màu đen bên trong có chứa 03 (ba) viên nén màu hồng (nghi là ma túy); đồng thời thu giữ chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe EXCITER, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 37K1-038.94 mà H đang điều khiển.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào hồi 19 giờ 50 phút, ngày 26/3/2024 của Hội đồng mở niêm phong Công an huyện K lập đã xác định:

  • - 01 (Một) bao chất màu trắng (nghi là ma túy) thu giữ của bị cáo Lương Văn MVi Văn H sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng là 0,42g (không phẩy bốn mươi hai gam), ký hiệu vật chứng số 1.
  • - 03 (ba) viên nén màu hồng (nghi là ma tuý) thu giữ của Lương Văn MVi Văn H sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng là 0,3 g (không phẩy ba gam), ký hiệu vật chứng số 2.
  • - Hội đồng đã trích để gửi đi giám định:
    • + 0,1 g (không phẩy một gam) chất màu trắng (nghi là ma túy), ký hiệu là M1 từ vật chứng số 1.
    • + 01 (một) viên nén màu hồng (nghi là ma tuý) có khối lượng 0,1g (không phẩy một gam), ký hiệu M2 từ vật chứng số 2.

Tại kết luận giám định số 362/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 01/4/2024 của phòng K Công an tỉnh N đã kết luận:

  • + Mẫu chất màu trắng (ký hiệu M1) thu giữ của Lương Văn MVi Văn H gửi tới giám định là ma tuý; loại Heroine. Số chất màu trắng thu giữ của Lương Văn MVi Văn H có khối lượng là 0,42g (không phẩy bốn mươi hai gam).
  • + Mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M2) thu giữ của Lương Văn MVi Văn H gửi tới giám định là ma tuý; loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng thu giữ của Lương Văn MVi Văn H có tổng khối lượng là 0,3g (không phẩy ba gam).

Tại phiên tòa, các bị cáo Lương Văn MVi Văn H đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Mục đích mua ma túy về là để sử dụng. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Về vật chứng của vụ án:

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ 0,42 gam Heroine (đã lấy đi giám định hết 0,1 gam Heroine còn lại 0,32 gam Heroine) và 0,3 gam Methamphetamine (đã lấy đi giám định hết 0,1 gam Methamphetamine, còn lại 0,2 gam Methamphetamine). Hiện, số vật chứng trên đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K chuyển giao để bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn.

Đối với 01 (Một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe EXCITER, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 37K1-038.94, thu giữ của các đối tượng. Qua điều tra, xác định chủ sở hữu là chị Vi Thị A, sinh năm 1974, trú tại bản N, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An, chị A không biết các đối tượng sử dụng vào mục đích phạm tội, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý vật chứng số 251 ngày 09/5/2024.

Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Kỳ Sơn giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như bản cáo trạng số 22/CT- VKS- KS ngày 28/5/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ hướng dẫn tại Điều 4 chương II của Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 thì tổng khối lượng Heroine, Methamphetamine trong vụ án này được xác định như sau: 0,42 gam + 0,3 gam = 0,72 gam. Tổng khối lượng hai chất ma túy này tương đương với khối lượng Heroine, Methamphetamine được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, nên hành vi của Lương Văn MVi Văn H đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

  • - Về hình phạt: Áp dụng: + Điểm i, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lương Văn M từ 24 (Hai mươi tư) tháng tù đến 30(Ba mươi) tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  • + Áp dụng điểm i, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Vi Văn H từ 18(Mười tám) đến 24(Hai mươi tư) tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại là 0,32 gam Heroine và 0,2 gam Methamphetamine và các vỏ bao bì niêm phong ban đầu được niêm phong lại bằng phong bì thư và dán kín, trên mép dán có chữ ký của các bị cáo và hội đồng tham gia niêm phong. Hiện, số vật chứng trên đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K chuyển giao để bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn.

- Về án phí: Miễn án phí cho các bị cáo Lương Văn MVi Văn H.

  • - Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Về tội danh và điều luật áp dụng đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn, trình độ dân trí thấp, nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo H lần đầu phạm tội, bị cáo M thuộc trường hợp tái phạm tuy nhiên có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, xử phạt các bị cáo mức án thấp nhất mà đại diện V đã đề nghị, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo, xin được miễn án phí cho các bị cáo.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bị hại là bà Vi Thị A đã được nhận lại tài sản là chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe EXCITER, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 37K1-038.94 và tại phiên tòa bà A không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Các bị cáo không có ý kiến gì thêm và đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận, người bào chữa cho các bị cáo không có tranh luận gì mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định của Cơ quan CSĐT Công an huyện K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên toà, các bị cáo đề nghị Trợ giúp viên Nhà nước thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N bào chữa cho các bị cáo và tại phiên toà người bào chữa đồng ý bào chữa cho các bị cáo là đúng quy định của pháp luật và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người chứng kiến, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án. Do đó, sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Hành vi của các bị cáo: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, vật chứng đã được thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 15 giờ, ngày 26/03/2024, sau khi thống nhất với Lương Văn M việc mua ma túy về cùng sử dụng thì Vi Văn H góp 300.00₫ (ba trăm nghìn đồng) rồi cùng Lương Văn M đi tìm mua ma túy. May và H đi vào bản Xốp Nhị, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An thì mua được 01 (một) gói ma túy của một người đàn ông không quen biết, người này tự giới thiệu tên là T trú tại bản Xốp Thặp, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An với số tiền 400.000 đồng (trong đó 300.000 đồng là tiền của H, còn 100.000 đồng là tiền của M góp vào). Đến khoảng 16 giờ 20, ngày 26/3/2024, MH đi đến khu vực bản X, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An, tìm nơi để sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện K phối hợp với Công an xã H phát hiện, bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 0,42 gam Heroine và 0,3 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Căn cứ hướng dẫn tại Điều 4 Chương 2 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số Điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 với hành vi tàng trữ 0,42 gam Heroine và 0,3 gam Methamphetamine đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng quy định pháp luật.

[2.2] Xét tính chất, hành vi phạm tội, vai trò và tình tiết tăng nặng giảm nhẹ:

- Về hành vi của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an cho xã hội. Các bị cáo có đủ năng lực nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn phạm tội. Việc sử dụng ma túy là rất nguy hiểm cho sức khỏe và là nguyên nhân dẫn đến lây lan căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS. Đối tượng là tầng lớp thanh, thiếu niên là nguồn lao động chính trong xã hội, làm giảm sức lao động và là nguyên nhân nảy sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Trong vụ án có đồng phạm tham gia, do vậy khi cân nhắc hình phạt đối với các bị cáo, hội đồng xét xử cần xem xét đến vai trò, đặc điểm nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, mức độ nghiêm trọng do hành vi phạm tội của các bị cáo để ra một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

- Xét vai trò của các bị cáo: Bị cáo Lương Văn M giữ vai trò chính, trực tiếp rủ bị cáo Vi Văn H góp tiền mua ma túy để các bị cáo cùng nhau sử dụng; bị cáo là người trực tiếp đứng ra giao dịch để mua ma túy, cất giữ ma túy. Bị cáo Vi Văn H giữ vai trò đồng phạm tích cực; khi được Lương Văn M rủ góp tiền và cùng M đi mua ma túy, bị cáo cũng đồng tình, sử dụng phương tiện chở bị cáo M đi mua và góp số tiền lớn hơn bị cáo M. Hành vi của các bị cáo rất nguy hiểm trực tiếp tiếp tay cho hành vi mua bán trái phép trái phép chất ma túy. Vì vậy, khi cân nhắc hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần bắt các bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian, mức hình phạt đối với bị cáo Lương Văn M phải cao hơn bị cáo Vi Văn H và tuyên phạt các bị cáo mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội mới có tác dụng giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội và có tính giáo dục, phòng ngừa chung.

- Về tình tiết tăng nặng: + Đối với bị cáo Lương Văn M: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLTTHS.

+ Đối với bị cáo Vi Văn H: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra các bị cáo đã đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Do vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền nhưng xét thấy các bị cáo không có tài sản gì lớn, là đối tượng nghiện ma tuý, sinh sống nơi khó khăn vì vậy miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[4] Đối với ông tự giới tiệu tên là T trú tại bản Xốp Thặp, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã xác minh nhưng tại địa bàn bản Xốp Thặp, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An không có người đàn ông nào tên T, nên không có căn cứ để xử lý người tên T trong vụ án này.

[5]. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bị hại là bà Vi Thị A đã được nhận lại tài sản là chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe EXCITER, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 37K1-038.94 và tại phiên tòa bà A không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự. Vì vậy Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về vật chứng: - Số ma túy còn lại là 0,32 gam Heroine và 0,2 gam Methamphetamine. Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành nên phải tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lương Văn MVi Văn H.

[8] Về các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn tại phiên toà và việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

  • - Tuyên bố: Các bị cáo Lương Văn MVi Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • - Áp dụng: Điểm i, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt: Bị cáo Lương Văn M 27(Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để tạm giữ, tạm giam (Tức là ngày 26/3/2024).
  • - Áp dụng: Điểm i, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt: Bị cáo Vi Văn H 18(Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để tạm giữ, tạm giam (Tức là ngày 26/03/2024).

[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại là 0,32 gam Heroine và 0,2 gam Methamphetamine hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn, Nghệ An.(Chi tiết vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K và Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn ngày 30/5/2024).

[3] Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lương Văn MVi Văn H.

[4]. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - VKSND huyện Kỳ Sơn
  • - Công an huyện Kỳ Sơn
  • - THA hình sự
  • - Chi cục THADS
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán- Chủ toạ phiên toà

Phan Văn Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 20/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Văn May và đồng phạm "TTTPCMT"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger