|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU Bản án số: 20/2024/HSST Ngày 20 tháng 5 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Lê Quốc Khởi
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Thành Nhạn
2/ Bà Cao Thị Mỹ Phượng
Thư ký phiên tòa: ông Lê Khắc Hải – thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Mộng – Kiểm sát viên.
Ngày 16/5/2024 đến ngày 20/5/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. TRẦN MINH T, sinh năm: 1981; Tên gọi khác: Không có tên gọi khác; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: cán bộ Phòng quản lý đô thị thị xã G; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần Minh H và bà Nguyễn Thị T1; Vợ: Trần Diễm M; Con ruột: 01 người sinh năm: 2015; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/3/2020 cho đến nay.
2. NGÔ KHÁNH MY, sinh năm: 1979; Tên gọi khác: Không có tên gọi khác; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Cán bộ Trung tâm dịch vụ đô thị thị xã G; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Ngô Văn L và bà Lưu Thị B; Vợ: Hồ Thị T2; con ruột 01 người sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/03/2020 cho đến nay.
3. TRƯƠNG HÒA HỢP, sinh năm: 1980; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: cán bộ Phòng quản lý đô thị; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trương Ánh S và bà Mã Thị L1; Vợ: Trần Thị Xuân L2; Con ruột: 02 người lớn nhất sinh năm: 2007, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/7/2023 cho đến nay.
4. TÔ XUÂN ĐỊNH, sinh năm: 1987; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: cán bộ Phòng kinh tế hạ tầng huyện P; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Tô Xuân M1 và bà Huỳnh Thị G; Vợ: Nguyễn Thị Thảo L3; Con ruột: 01 người sinh năm: 2016; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/3/2020 cho đến nay.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị Thảo L3 – sinh năm: 1988
Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu
Ông Trần Minh H – sinh năm: 1953
Nơi cư trú: ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu
Ông Lương Quốc H1 – sinh năm: 1990
Nơi cư trú: khóm B, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu
(Bà L3; ông H1 vắng mặt; ông H có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Xuất phát từ ý thức thu lợi bất chính, nên trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2018 đến tháng 12 năm 2019, Trần Minh T3, Tô Xuân Đ, Ngô Khánh M2 và Trương Hòa H2 đã thực hiện hành vi làm giả tài liệu của tổ chức nhằm lừa dối cơ quan nhà nước, cụ thể như sau:
Đối với Ngô Khánh M2 biết mình không đủ tư cách pháp nhân nhưng vẫn nhận thực hiện làm giả 04 bản vẽ (ghi tên người đo vẽ là Lương Quốc H1) tại các bãn vẽ công trình nhà ở cho ông Ngô Hồng T4, bà Phùng Thị T5, ông Trần Minh P và bà Nguyễn Thị Trường G1, đã thu lợi bất chính số tiền 29.000.000 đồng.
Đối với Trương Hòa H2 biết mình không đủ tư cách pháp nhân nhưng vẫn nhận thực hiện làm giả 03 bản vẽ và ký giả chữ ký người đo vẽ Nguyễn Thủ K vào 03 bản vẽ công trình nhà ở cho ông Châu Thiết K1, ông Nguyễn Việt H3 và bà Nguyễn Kim N, không thu lợi bất chính.
Đối với Trần Minh T3 lợi dụng gia đình mình có công ty hoạt động ngành nghề liên quan đến việc đo vẽ, thiết kế xây dựng, nên đã đồng ý hợp thức hóa, giả chữ ký của người đo vẽ – Lương Quốc H1 (02 lần) và giả chữ ký của Trần Minh H – Giám đốc công ty TNHH MTV T7 (05 lần) vào 04 bản vẽ do Ngô Khánh M2 vẽ và 03 bản vẽ do Trương Hòa H2 vẽ, không thu lợi bất chính.
Đối với Tô Xuân Đ1 đã đồng ý với Trần Minh T3 hợp thức hóa, giả chữ ký của người đo vẽ – Lương Quốc H1 (01 lần) và giả chữ ký của Nguyễn Thị Thảo L3 (02 lần) – Giám đốc công ty TNHH T7 vào 02 bản vẽ do Ngô Khánh M2 vẽ, không thu lợi bất chính.
Tại Cáo trạng số 88/CT- VKSGR-KSĐT ngày 16/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai truy tố bị cáo Trần Minh T3 về tội: “Làm giả tài liệu của tổ chức” theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 341 Bộ luật hình sự. Bị cáo Ngô Khánh M2 về tội: “Làm giả tài liệu của tổ chức” theo quy định tại điểm b, c, đ khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự; Các bị cáo Tô Xuân Đ1 và Trương Hòa H2 về tội: “Làm giả tài liệu của tổ chức” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai vẫn giữ nguyên bản Cáo trạng đã truy tố:
Đề nghị áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt các bị cáo Trần Minh T3 mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do không thu lợi bất chính.
Đề nghị áp dụng điểm b, c, đ khoản 2, khoản 4 Điều 341; Điều 17; khoản 2 Điều 35; Điều 38; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt các bị cáo Ngô Khánh M2 mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Áp dụng hình phạt bổ sung buộc bị cáo phải nộp số tiền từ 5,000,000₫ đến 10,000,000₫.
Đề nghị áp dụng điểm b, c, khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Tô Xuân Định m án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do không thu lợi bất chính.
Đề nghị áp dụng điểm b, c, khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt các bị cáo Trương Hòa H2 mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do không thu lợi bất chính.
Về vật chứng của vụ án: Các bản vẽ đã thu thập trong quá trình điều tra tiếp tục được lưu trong hồ sơ vụ án để chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền bị cáo Ngô Khánh M2 nộp số tiền 22.500.000 đồng thu lợi bất chính từ việc thực hiện các bản vẽ mà có sẽ được sung công quỹ nhà nước.
Các bị cáo Ngô Khánh M2, Trần Minh T3, Tô Xuân Đ1, Trương Hòa H2 đã ăn năn hối cải về hành vi của mình việc Viện kiểm sát truy tố và Tòa án xét xử bị cáo là không oan cho các bị cáo, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và xin cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo sửa đổi sai lầm bản thân. Bản thân bị cáo Đ1, H2, T3 không có thu lợi bất chính.
Ông Trần Minh H: do các bị cáo còn trẻ, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thấy lỗi lầm của mình, cũng vì mối quan hệ tình cảm, không nhận thức được quy định pháp luật mà các bị cáo đã thực hiện hành vi sai trái với pháp luật. Kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an thị xã G, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Trần Minh T3, Ngô Khánh M2, Trương Hòa H2 và Tô Xuân Đ1 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh T3, Ngô Khánh M2, Trương Hòa H2 và Tô Xuân Đ1 đã thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai đã truy tố, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định và các tài liệu thu giữ nên đủ cơ sở kết luận:
Khoảng tháng 11/2019, ông Nguyễn Hồng T6 đến gặp Võ Thanh H4 là cán bộ phụ trách địa chính, xây dựng của phường H, thị xã G để làm hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà trên đất ở. Tại đây Võ Thanh H4 giới thiệu ông Nguyễn Hồng T6 đến gặp Ngô Khánh M2 (Cán bộ trung tâm dịch vụ đô thị của thị xã G) để thực hiện bản vẽ, thì T6 đồng ý. Sau đó, H4 và M2 đến nhà Nguyễn Hồng T6 để đo đạc thực tế, do bản thân không đủ tư cách pháp nhân để thực hiện bản vẽ, Ngô Khánh M2 nhờ T3 hợp thức hóa dùm bản vẽ của M2 thành bản vẽ của Công ty T7, thì Trần Minh T3 đồng ý. Sau khi vẽ xong Ngô Khánh M2 ghi sẵn tên người đo vẽ là Lương Quốc H1 rồi đưa bản vẽ để Trần Minh T3 hợp thức hóa bằng cách: T3 giả chữ ký người đo, vẽ Lương Quốc H1 và giả chữ ký của Trần Minh H – Giám đốc Công ty TNHH MTV T7 trong bản vẽ.
Sau khi ký xong bản vẽ T3 giao lại cho M2 thì M2 giao lại cho H4, H4 giao bản vẽ cho ông Nguyễn Hồng T6 và nhận số tiền 7.500.000 đồng. Nhận được tiền của ông T6 thì H4 đưa cho Ngô Khánh M2 6.000.000 đồng, giữ lại 1.500.000 đồng để trả tiền nhậu với M2 và T3. Khi nhận bản vẽ ngày 04/12/2019 ông Nguyễn Hồng T6 mang hồ sơ đến văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh thị xã G để nộp hồ sơ bổ sung quyền sở hữu nhà trên đất ở. Đến ngày 15/01/2020 Văn phòng đăng ký đất đai đã trả toàn bộ hồ sơ cho ông T6, lý do có dấu hiệu giả mạo chữ ký nên không thực hiện việc đăng ký theo yêu cầu của ông T6. Từ đó, ông T6 đến Công an thị xã G trình báo sự việc trên.
Tại kết luận giám định số 35/GĐ – 2020 ngày 16/3/2020, của Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận: chữ ký giám đốc Trần Minh H và người đo vẽ Lương Quốc H1 do Trần Minh T3 ký ra, mộc con dấu công ty TNHH MTV T7 là mộc dấu thật.
Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định thêm: với hành vi tương tự, Ngô Khánh M2, Trần Minh T3, Trương Hòa H2 còn giả chữ ký của người đo vẽ và giám đốc Công ty TNHH MTV T7, Tô Xuân Đ1 giả người đo vẽ và giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạT7 (TNHH ) ở nhiều bản vẽ khác, cụ thể như sau:
Đối với Trần Minh T3 đã đồng ý hợp thức hóa, giả chữ ký của người đo vẽ – Lương Quốc H1 (02 lần) tại các bản vẽ của Trần Minh P, Nguyễn Thị Trường G1; Nguyễn Hồng T6. Giả chữ ký của Trần Minh H – Giám đốc công ty TNHH MTV T7 (05 lần) tại các bản vẽ Nguyễn Hồng T6; Phùng Thị T5; Nguyễn Việt H3; Nguyễn Kim N; Châu Thiết K1 và 04 bản vẽ do Ngô Khánh M2 vẽ và 03 bản vẽ do Trương Hòa H2 vẽ.
Đối với Ngô Khánh M2 đã thực hiện làm giả 04 bản vẽ (ghi tên người đo vẽ là Lương Quốc H1) tại các bãn vẽ công trình nhà ở cho ông Nguyễn Hồng T6, bà Phùng Thị T5, ông Trần Minh P và bà Nguyễn Thị Trường G1, đã thu lợi bất chính số tiền 29.000.000 đồng.
Đối với Trương Hòa H2 đã thực hiện làm giả 03 bản vẽ và ký giả chữ ký người đo vẽ Nguyễn Thủ K vào 03 bản vẽ công trình nhà ở cho ông Châu Thiết K1, ông Nguyễn Việt H3 và bà Nguyễn Kim N.
Đối với Tô Xuân Đ1 hợp thức hóa, giả chữ ký của người đo vẽ – Lương Quốc H1 (01 lần) và giả chữ ký của Nguyễn Thị Thảo L3 (02 lần) – Giám đốc công ty TNHH T7 vào 02 bản vẽ do Ngô Khánh M2 vẽ tại các bản vẽ Trần Minh P và Nguyễn Thị Trường G1.
Tại các kết luận giám định cụ thể:
Kết Luận giám định 55/GĐ-2020 ngày 10/8/2020, của Phòng K3 Công an tỉnh B, kết luận chữ ký Lương Quốc H1 do Trần Minh T3 ký ra.
Kết luận giám định số 103/KL – KTHS ngày 19/12/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh B, kết luận: mộc con dấu công ty TNHH MTV T7 là mộc dấu thật.
Tại kết luận giám định số 55/GĐ – 2020 ngày 10/8/2020 của Phòng K3 Công an tỉnh B, kết luận chữ ký giám đốc Trần Minh H là do Trần Minh T3 ký ra.
Kết luận giám định số 81/KL – KTHS ngày 26/9/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh B, kết luận chữ ký của giám đốc Nguyễn Thị Thảo L3 do Tô Xuân Đ1 ký ra, mộc dấu Công ty TNHH T7 là mộc dấu thật.
Tại kết luận giám định số 53/GĐ – 2023 ngày 27/6/2023, của của Phòng K3 Công an tỉnh B Đối với chữ ký người đo vẽ Nguyễn Thủ K do Trương Hòa H2 ký ra.
3] Hình thức thực hiện hành vi của các bị cáo: trong đó bị cáo M2 và bị cáo H2 trực tiếp thực hiện các bản vẽ, riêng bị cáo H2 trực tiếp ký giả chữ ký của người đo vẽ là Nguyễn Thủ K; bị cáo Trần Minh T3 trực tiếp giả chữ ký của Lương Quốc H1 02 lần và ông Trần Minh H 05 lần, bị cáo Tô Xuân Đ1 trực tiếp ký giả chữ ký của bà Nguyễn Thị Thảo L3 02 lần và chữ ký của ông Lương Quốc H1 01 lần. Vì vậy, Cáo trạng số 88/CT- VKSGR-KSĐT ngày 16/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai truy tố bị cáo Trần Minh T3 về tội: “Làm giả tài liệu của tổ chức” theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 341 Bộ luật hình sự. Bị cáo Ngô Khánh M2 về tội: “Làm giả tài liệu của tổ chức” theo quy định tại điểm b, c, đ khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự; Các bị cáo Tô Xuân Đ1 và Trương Hòa H2 về tội: “Làm giả tài liệu của tổ chức” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và không oan cho các bị cáo.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trực tiếp vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước, khi thực hiện hành vi các bị cáo là người đã thành niên và đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
4] Xét vai trò đồng phạm của các bị cáo thấy rằng: đây chỉ là hình thức đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành, không có sự phân công vai trò thực hiện hành vi. Do đó, các bị cáo cùng chịu trách nhiệm chung theo quy định trên cơ sở tính chất và mức độ thực hiện hành vi của từng bị cáo.
5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; quá trình học tập công tác được tặng thưởng nhiều giấy khen, gia đình bị cáo T3; H2 và Đ1, M2 có công với nhà nước; bị cáo M2 tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính là 22,500,000đ và cùng bị cáo T3 hoàn trả cho ông Nguyễn Hồng T6 số tiền 6,500,000đ, những người có quyền lợi liên quan có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo M2, T3, H2 và Đ1 nên đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự mà các bị cáo được hưởng. Riêng bị cáo M2, T3 có thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định. Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, nhưng hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan hành chính nhà nước, gây dư luận trong xã hội nên cần có hình phạt nghiêm minh, tương xứng với hành vi của các bị cáo để ngăn ngừa tội phạm chung.
6] Về vật chứng của vụ án: Các bản vẽ đã thu thập trong quá trình điều tra tiếp tục được lưu trong hồ sơ vụ án để chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo.
Đối với số tiền bị cáo Ngô Khánh M2 nộp số tiền 22.500.000 đồng thu lợi bất chính từ việc thực hiện các bản vẽ mà có sẽ được sung công quỹ nhà nước.
Do quá trình thực hiện hành vi, bị cáo Tô Xuân Đ1 không thu lợi bất chính, nhưng quá trình thụ lý vụ án bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền là 3,000,000đ. Tại phiên tòa, do bị cáo yêu cầu được nhận lại số tiền trên nên trả lại cho bị cáo Tô Xuân Đ1 số tiền đã nộp là 3,000,000₫.
7] Đối với hành vi của Võ Thanh H4 và Nguyễn Hải  trong quá trình điều tra xét thấy, có dấu hiệu đồng phạm với các bị cáo Ngô Khánh M2 và Trần Minh T3, Tô Xuân Đ1 trong các bản vẽ của Nguyễn Hồng T6 và Trần Minh P, Nguyễn Thị Trường G1 nhưng Tòa án đã trả hồ sơ, Viện kiểm sát không chấp nhận nên kiến nghị cấp trên xem xét đối với hành vi của Võ Thanh H4 và Nguyễn Hải  để xử lý theo quy định.
8] Xét ý kiến đề xuất xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai về hình phạt xét thấy: Hành vi của các bị cáo đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động đúng đắn của cơ quan quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn thị xã G, mặc dù bản thân các bị cáo M2, T3, H2, Đ1 không thu lợi bất chính, nhưng hành vi này gây dư luận xấu trong xã hội. Do đó, cần có hình phạt nghiêm để phòng ngừa và góp phần giáo dục ý thức chấp hành pháp luật chung cho xã hội. Vì vậy mức đề xuất về hình phạt của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận.
9] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đã áp dụng hình thức phạt tù, nên việc áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo là không cần thiết. Do đó, Viện kiểm sát đề xuất áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Ngô Khánh M2, Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố: các bị cáo TRẦN MINH T; NGÔ KHÁNH MY; TRƯƠNG HÒA HỢP và TÔ XUÂN ĐỊNH phạm tội “Làm giả tài liệu của tổ chức".
- - Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 341, Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt: bị cáo Trần Minh T3 - 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
- - Căn cứ điểm b, c, đ khoản 2 Điều 341, Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt: bị cáo Ngô Khánh M2 - 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
- - Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 341, Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt: bị cáo Trương Hòa H2 - 02 (Hai) năm tù.
- - Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 341, Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt: bị cáo Tô Xuân Đ1 - 02 (Hai) năm tù.
- Thời hạn tù được tính kể từ ngày các bị cáo bị bắt chấp hành hình phạt.
-
Về vật chứng của vụ án: Các bản vẽ đã thu thập trong quá trình điều tra tiếp tục được lưu trong hồ sơ vụ án để chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106 của bộ luật tối tụng hình sự. Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền do bị cáo Ngô Khánh M2 nộp là 22,500,000₫ theo biên lai thu tiền số 0001357 ngày 14/9/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Giá Rai.
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: trả lại cho bị cáo Tô Xuân Đ1 số tiền đã nộp là 3,000,000đ theo biên lai số 0001776 ngày 26/4/2024.
-
Án phí: áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị Trần Minh T3, Ngô Khánh M2, Trương Hòa H2 và Tô Xuân Đ1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, nôp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Giá Rai.
- Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú./.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Quốc K2 |
Bản án số 20/2024/HSST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU về làm giả tài liệu của tổ chức
- Số bản án: 20/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Làm giả tài liệu của tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Minh Thắng + Đb phạm tội làm giả tài liệu của tổ chức
