Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHÓ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 20/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20/05/2024

V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tống Văn Long;
  2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.

Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Anh Đào – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh.

Hôm nay, ngày 20 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 348/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023, về tranh chấp "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 04 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lại Thị T, sinh năm 1989;
  2. Nơi cư trú: Số nhà H đường Đ, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1986.
  4. Nơi cư trú: Số G đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/10/2023, các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lại Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn T1 kết hôn và chung sống với nhau vào ngày 20/10/2008 tại UBND xã H, thành phố Hà Nội, hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn ông bà chung sống hạnh phúc thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung trong mọi chuyện, khi làm ăn thua lỗ thì vợ chồng không có sự san sẻ với nhau mà thường xuyên trách móc và gây cãi, dù đã nhiều lần hai vợ chồng cố gắng hàn gắn nhưng không đạt kết quả, bà và ông T1 đã sống ly thân khoảng 06 tháng nay, từ đó đến nay thì ông T1 cũng bỏ mặc bà và các con không quan tâm. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được do đó bà đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho bà và ông T1

Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Nguyễn Anh T2, sinh ngày 21/05/2009; Nguyễn Hoàng A ngày 05/04/2012. Ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung cho đến khi thành niên, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung, nợ riêng: Không có.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 trình bày:

Ông kết hôn với bà Lại Thị T tháng 10/2008 có đăng ký kết hôn đúng theo qui định của pháp luật. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Việc làm ăn kinh tế không có sự đồng thuận nên vợ chồng thường xuyên gây cãi, bà T xuyên đi chơi bời tới khuya mới về, bỏ bê con cái ở nhà trọ tới tận 11h đêm không quan tâm, khi ông nhắc nhở khuyên can thì bà T nghe mà còn tỏ thái độ thách thức, ông bà không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Hiện nay hai vợ chồng đã sống ly thân, trong thời gian sống ly thân thì ông đã nhiều lần nói chuyện hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không đạt kết quả. Nay bà T ly hôn thì ông không đồng ý do vẫn muốn xây dựng lại hạnh phúc gia đình để cùng nhau chăm lo cho các con.

Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Nguyễn A1 T2 sinh ngày 21/05/2009 và Nguyễn Hoàng A ngày 05/04/2012. Hiện các cháu đang sống cùng mẹ, mọi việc sinh hoạt đưa đón các con đi học là do bà T. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn ông có nguyện vọng nuôi 02 con đến khi thành niên, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghỉ nghị án như sau: thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự qui định. Về nội dung vụ án: yêu cầu của bà T được ly hôn với ông T1 là có cơ sở chấp nhận; về con chung: đề nghị giao 02 con chung tên Nguyễn A1 T2 sinh ngày 21/05/2009 và Nguyễn Hoàng A ngày 05/04/2012 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên. Về tài sản chung, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung các đương sự khai không có nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Lại Thị T kiện yêu cầu Tòa án cho bà ly hôn với ông Nguyễn Văn T1; cư trú tại: Số G, phường L, thành phố B. Do vậy, xác định đây là tranh chấp ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2].Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ hai, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Qua xác minh tại địa phương, lời khai của các đương sự thấy rằng: Bà Lại Thị T ông Nguyễn Văn T1 tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn đúng theo qui định của pháp luật. Các đương sự đều thừa nhận quá trình vợ chồng chung sống có nhiều mâu thuẫn do quan điểm sống của vợ chồng khác nhau, trong công việc làm ăn và phát triển kinh tế gia đình không có sự đồng thuận, nhiều lần gây gổ cãi vã với nhau, vợ chồng đã sống ly thân không ai quan tâm tới ai; mặc dù ông T1 không đồng ý ly hôn nhưng thừa nhận không khắc phục được mâu thuẫn vợ chồng, bà T khẳng định không còn tình cảm với ông T1 không thể tiếp tục chung sống. Xét tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông T1 đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích của hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ và hợp pháp.

[4]. Về nuôi con chung: Bà T ông T1 có 02 con chung tên Nguyễn A1 T2 sinh ngày 21/05/2009 và Nguyễn Hoàng A ngày 05/04/2012. Cả bà T ông T1 đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con và đều có khả năng nuôi con, không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; xét hai cháu A H nguyện vọng ở với mẹ, từ khi ông bà sống ly thân đến nay hai cháu cũng do bà T tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao con chung 02 con chung tên Nguyễn A1 T2 sinh ngày 21/05/2009 và Nguyễn Hoàng A ngày 05/04/2012 cho bà T tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con thành niên. Bà T đủ điều kiện nuôi con, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[5]. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

[6]. Về nợ chung, nợ riêng: Các đương sự khai không có. Trong quá trình giải quyết không ai có tranh chấp gì nên không xem xét.

[7]. Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

[8]. Về án phí: Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng Điều 51 và Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lại Thị T ông Nguyễn Văn T1.
  2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn A1 T2 sinh ngày 21/05/2009 và Nguyễn Hoàng A ngày 05/04/2012 cho bà T tiếp nuôi dưỡng đến khi con thành niên. Bà T đủ điều kiện nuôi con, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
  3. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

  4. Về án phí: Bà Lại Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0005910 ngày 01/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc (Bà T nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm).
  5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, điều 7a, điều 7b và điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • + Các đương sự;
  • + VKSND TP. Bảo Lộc;
  • + T.H.A Bảo Lộc;
  • + TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • + UBND xã Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội.
  • + Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nguyệt.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HNGĐ-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn (hôn nhân và gia đình)

  • Số bản án: 20/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Lại Thị T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger