|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2024/HS-PT Ngày 20-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng
Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Bình
Ông Nguyễn Văn Sinh
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 101/2023/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo Rơ Mah T và Rơ Lan H do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 36/2023/HSST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
*Bị cáo có kháng cáo:
- Rơ Mah T; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 01/01/1958, tại tỉnh Gia Lai; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Làng B ngó, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; Dân tộc: Jrai; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 0/12; Con ông Ksor N (đã chết) và bà Rơ Mah Đ (đã chết); Bị cáo có vợ tên là Rơ Lan H và 05 người con (lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 2007); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.
- Rơ Lan H; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 01/01/1970, tại tỉnh Gia Lai; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Làng B ngó, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; Dân tộc: Jrai; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 0/12 ; Con ông Siu HLơn (đã chết) và bà Rơ Lan O (đã chết); Bị cáo có chồng tên là Rơ Mah T và 01 người con (sinh năm 2007); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Phan Quang H1, Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh B. Có mặt
* Bị hại: Ban Q. Vắng mặt
* Người phiên dịch: Bà N1 H’yan – phiên dịch tiếng jrai. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
- Kháng cáo của bị cáo
- Diễn biến vụ án tại cấp phúc thẩm:
- Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
Vào ngày 15/10/2022 do nhu cầu cần đất để làm nương rẫy nên bị cáo Rơ Mah T nói với vợ là bị cáo Rơ Lan H cùng đi vào rừng để tìm đất phát dọn làm rẫy. Cả hai bị cáo đã vào khu vực rừng tự nhiên thuộc khu vực lô 15, khoảnh 9, tiểu khu C do Ban Q quản lý, thấy đất ở khu vực này bằng phẳng và đám rừng bên cạnh đó cũng đã có dấu hiệu có người cũng đang chặt phá nên cả hai đã dùng dao rựa, rìu chặt cây phát dọn từ ngày 15/10/2022 đến ngày 17/10/2022 thì bị lực lượng tuần tra của Trạm quản lý, bảo vệ rừng I, Đồn Biên phòng I, Kiểm lâm địa bàn phát hiện.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 24/10/2022 xác định diện tích rừng bị chặt phá là 8.101m². Theo Bản đồ tại Quyết định số 527/2021/QĐ-UBND ngày 23/8/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh G thì diện tích rừng trên là thuộc loại rừng phòng hộ, trạng thái rừng gỗ tự nhiên núi đất LRTX trung bình thuộc tiểu khu C, xã I do Ban Q quản lý.
Tại hiện trường xác định tổng số cây bị chặt là là 81 cây, đường kính gốc từ 11 đến 41 cm, chiều cao gốc chặt từ 60 đến 120cm, chủng loại bị chặt là Bình linh, C, G trắng, S bo bo, T1 ngạnh, Thẩu tấu, Vên vên, Sp6 và các loại cây bụi, lây leo đều bị phát dọn sạch. Qua kiểm tra bằng mắt xác định dấu vết chặt mới, công cụ chặt hạ bằng rao, rìu, một số cây bằng cưa. Tổng khối lượng gỗ bị chặt hạ tại hiện trường là 13,050m³.
Tiến hành cho các bị cáo Rơ Mah T và Rơ Lan H xác định diện tích đã chặt phá xác định được diện tích là 4.403m² với số cây bị chặt hạ là 31 cây.
Tại bản kết luận giám định tư pháp số 01 ngày 10/3/2023 của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh G xác định giá trị thiệt hại, giá trị phải bồi thường đối với diện tích rừng tự nhiên bị thiệt hại 4.403m² thuộc rừng tự nhiên núi đất LRTX trung bình, loại rừng phòng hộ tại lô 15 khoảnh 9, tiểu khu C lâm phần Ban Q, địa giới hành chính xã I, tỉnh Gia Lai là 13.003.465 đồng.
Tại bản án hình sơ thẩm số 36/2023/HSST ngày 18-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Rơ Mah T và Rơ Lan H phạm tội “Hủy hoại rừng”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Rơ Mah T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Rơ Lan H 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án 18/9/2023.
Giao bị cáo Rơ Lan H cho UBND xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo Rơ Lan H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi Hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên trong phần quyết định về xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của bị cáo theo luật định.
Ngày 02/10/2023 bị cáo Rơ Mah T và Rơ Lan H kháng cáo cho rằng với công cụ thô sơ như dao và rìu hai bị cáo không thể chặt được 31 cây rừng có đường kính từ 11-14cm trong khoảng thời gian 03 ngày. Hai bị cáo chỉ phát dọn cỏ, cây bụi trong diện tích này và đề nghị Tòa chuyển sang phạt hành chính 02 bị cáo.
Ngày 23/01/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai có công văn số 01/THS đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai thu thập, bổ sung chứng cứ xác minh, đo đạc lại diện tích hiện trường rừng bị huỷ hoại với thành phần tham gia theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Ngày 20/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai có báo cáo số 01/BC-VKS về kết quả thu thập chứng cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, xin Hội đồng xét xử cho hưởng án treo vì các bị cáo chỉ chặt 14 gốc để xác định diện tích làm nương rẫy, có phát dọn nhưng vùng trong của các cây này còn rất nhiều cây chưa chặt và còn diện tích chưa phát dọn.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng Hình sự, huỷ bản án hình sự sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại.
Người bào chữa cho các bị cáo cho rằng các bị cáo phạm tội chưa đạt, do muốn lấy đất làm nương rẫy nên các bị cáo có chặt cây rừng để lấy đất nhưng đang chặt và phát dọn thì bị phát hiện, mới chặt được 14 cây, chưa chặt hết và chưa phát hết toàn bộ diện tích bên trong của 14 cây. Nên đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Do muốn có đất làm nương rẫy nên các bị cáo Rơ Mah T và Rơ Lan H đã mang dao rựa, rìu đến tại khu vực lô 15, khoảnh 9, tiểu khu C do Ban Q quản lý để chặt, phát cây rừng. Ngày 17/10/2022 khi các bị cáo đang chặt, phát cây rừng thì bị lực lượng tuần tra của Trạm quản lý, bảo vệ rừng I, Đồn Biên phòng I, Kiểm lâm địa bàn phát hiện.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 24/10/2022 xác định diện tích rừng bị chặt phá là 8.101m². Theo Bản đồ tại Quyết định số 527/2021/QĐ-UBND ngày 23/8/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh G thì diện tích rừng trên là thuộc loại rừng phòng hộ, trạng thái rừng gỗ tự nhiên núi đất LRTX trung bình thuộc tiểu khu C, xã I do Ban Q quản lý. Tiến hành cho các bị cáo Rơ Mah T và Rơ Lan H xác định diện tích đã chặt phá xác định được diện tích là 4.403m² với số cây bị chặt hạ là 31 cây.
Tại bản kết luận giám định tư pháp số 01 ngày 10/3/2023 của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh G xác định giá trị thiệt hại, giá trị phải bồi thường đối với diện tích rừng tự nhiên bị thiệt hại 4.403m² thuộc rừng tự nhiên núi đất LRTX trung bình, loại rừng phòng hộ tại lô 15 khoảnh 9, tiểu khu C lâm phần Ban Q, địa giới hành chính xã I, tỉnh Gia Lai là 13.003.465 đồng.
Do đó. Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Rơ Mah T và Rơ Lan H về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự.
[2] Sau khi cấp sơ thẩm xử, các bị cáo kháng cáo đề nghị xử lý hành chính. Tại phiên toà phúc thẩm các bị cáo và người bào chữa cho các bị cáo đều cho rằng các bị cáo tuổi cao, sức yếu, thời gian ngắn (chặt chưa đến 03 ngày) nên không thể chặt phá diện tích như bản án sơ thẩm tuyên nhưng do lúc lập biên bản không có người phiên dịch nên các bị cáo không hiểu, không nghĩ bị xử tù nên mới nhận.
Xem xét hồ sơ vụ án thể hiện, tại Biên bản về việc tuần tra, kiểm tra rừng ngày 17/10/2022 do anh Ksor L lập trong 73 gốc cây bị chặt thì vợ chồng bị cáo chặt 21 gốc. Nhưng tại Biên bản xác minh hiện trường ngày 24/10/2022 do anh Đào Phi L1 lập thể hiện trong 81 cây rừng bị chặt hạ thì vợ chồng bị cáo chặt 31 cây. Tại phiên tòa phúc thẩm Ông Mộc Hà T2 xác nhận các bị cáo mới chặt hạ cây ngã tại chỗ chứ chưa phát dọn gì. Hiện nay hiện trường vụ án tại khu vực lô 15 khoảnh 9 tiểu khu C thuộc Lâm phần của Ban Q quản lý vẫn chưa được trồng mới, chưa có sự tác động khác của con người, các gốc cây rừng bị chặt chỉ có một số dây leo, cây bụi, các cây tái sinh còn rất nhỏ. Anh Ksor L cũng xác nhận khi lập biên bản không có người phiên dịch phù hợp vùng miền nên anh và các bị cáo không hiểu hết tiếng của nhau. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã ngừng phiên toà và có văn bản đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai thu thập bổ sung chứng cứ.
[3] Kết quả thu thập chứng cứ:
Ngày 29/02/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai và Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện I cùng với Chi cục Kiểm lâm huyện I, Ban Q, Đồn biên phòng I cùng với các bị cáo, Luật sư, người phiên dịch, người chứng kiến đã tiến hành xác định lại hiện trường rừng bị phá tại lô 15 khoảnh 9 tiểu khu C thuộc lâm phần của Ban Q quản lý.
Tại buổi làm việc, bị cáo T cầm theo máy định vị GAR Min 64 để định vị, xác định lại ranh giới, kết quả của buổi làm việc xác định diện tích các bị cáo phá hoại là 3.230,5 m² và phần diện tích bổ sung 132 m² vì tại hiện trường do cây bụi rậm, cây le, dây leo, cây rừng mọc tốt nên bị cáo không thể đi theo được hướng đã phát dọn mà phải cắt ngang nên không đúng theo diện tích thực tế, khách quan nên cho bị cáo đi thêm một khoảnh mới có diện tích bổ sung như trên; Số gốc cây rừng các bị cáo đã chặt được xác định trong buổi làm việc này là 14 gốc.
[4] Như vậy, có phát sinh tình tiết mới do có diện tích bổ sung, giảm diện tích đã được xác định trước đây và giảm số cây được xác định do các bị cáo chặt phá nên cần định giá để xác định thiệt hại làm căn cứ xem xét vụ án. Bên cạnh đó, chỉ xác định được tổng số cây bao phủ bên ngoài do các bị cáo chặt để đánh dấu diện tích mong muốn chiếm dụng canh tác từ đó tính diện tích tổng thể mà chưa xác định được toàn bộ diện tích bên trong đã bị huỷ hoại toàn bộ hay chỉ một phần như các bị cáo trình bày, các bị cáo đều khai bên trong còn nhiều cây to và cây bụi chưa chặt, phát dọn phù hợp với lời khai ông Mộc Hà T3 nêu trên nên cần thiết phải đo đạc, xác định cụ thể vấn đề này mới đủ căn cứ xem xét vụ án.
Ngoài diện tích mà các bị cáo khai nhận đã chặt phá thì diện tích tiếp giáp cũng bị chặt phá và nhiều cây được xác định dấu chặt mới. Do đó, cần thiết phải điều tra bổ sung đối với toàn bộ diện tích bị xâm phạm và xác định có phải do các bị cáo gây ra hay còn ai khác thực hiện hành vi phạm tội liên quan đến vụ án này hay không để giải quyết toàn diện vụ án.
Như vậy, tại giai đoạn phúc thẩm phát sinh tình tiết mới cần thiết phải điều tra bổ sung mới đủ căn cứ giải quyết và triệt để vụ án mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng Hình sự hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại.
[5] Do Bản án sơ thẩm bị hủy nên không xem xét kháng cáo của các bị cáo.
[6] Về án phí: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên không ai phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Hủy bản án Hình sự sơ thẩm số 36/2023/HSST ngày 18-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai để điều tra lại.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Kim Hồng |
Bản án số 20/2024/HS-PT ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hủy hoại rừng
- Số bản án: 20/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy án sơ thẩm
