Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH HẢI

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/HS-ST

Ngày: 06 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Niệm;

Ông Đào Minh Phấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Trí - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa:

Bà Trịnh Thị Khánh Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST - HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 đối với:

Bị cáo Nguyễn Nhân H, sinh năm 2000 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: thôn Đ, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; dân tộc: Kinh; tôn giáo: công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Nguyễn Thế N và bà Huỳnh Thị Ngọc H1; có vợ Huỳnh Thị Đông N1 và có 01 người con. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 26/3/2024, bị Công an huyện N xử phạt 2.500.000₫ về hành vi “trộm cắp tài sản”, đã nộp phạt ngày 10/4/2024.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/01/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N (có mặt).

Bị hại: Bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1963. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thế N, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Biết bà Nguyễn Thị Kim A ở thôn Đ, xã H, huyện N sống một mình nên Nguyễn Nhân H nảy sinh ý định đột nhập vào nhà bà A để lấy trộm tài sản. Khoảng 07 giờ ngày 19/01/2024, H đột nhập vào nhà bà A từ hướng phía sau nhà rồi đi vào các phòng tìm kiếm tài sản. Thấy chiếc điện thoại di động hiệu VIVO của bà A để trên giường trong phòng ngủ, H đến lấy và tháo ốp lưng ném dưới nệm, giấu điện thoại vào túi quần rồi đi về. Khi ra đến cửa hông, thấy bà A đang làm vườn, sợ bị phát hiện nên H quay lại phòng ngủ lấy chiếc chăn đem ra gian bếp trùm núp chờ cơ hội tẩu thoát. Khoảng 08 giờ 40 phút, bà A đi vào phòng ngủ thay quần áo. Thấy bà A cởi quần áo, H liền nảy sinh ham muốn giao cấu với bà A. H tự cởi quần áo mình, cầm chăn xông tới che mặt bà A, đè bà A xuống giường. Bà A kêu cứu, van xin và nói với H nhà bà có camera nên H sợ và lấy quần áo mặc vào rồi chạy thoát theo đường phía sau nhà. Chạy đến chỗ đất trống phía sau nhà anh Đỗ Hoàng T, H cởi áo khoác ném đi, giấu chiếc điện thoại di động lấy trộm được phía sau nhà anh T, lấy chiếc áo của anh T mặc và trốn tại nhà anh T đến khoảng 10 giờ cùng ngày thì bị Công an xã H bắt và thu giữ điện thoại di động, quần áo của H.

Tại Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG, ngày 05/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản, trong tố tụng hình sự kết luận: 01 điện thoại di động hiệu VIVO trị giá 1.500.000 đồng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Nhân H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Về bồi thường dân sự: quá trình điều tra ông N (cha của H) đã bồi thường cho bà A 3.000.000₫.

Bản Cáo trạng số: 20/CT-VKS ngày 03/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Nhân H về tội “Hiếp dâm” theo khoản 1 Điều 141 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải giữ nguyên quyết định truy tố theo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhân H phạm tội “Hiếp dâm”. Áp dụng: khoản 1 Điều 141; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 15, Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H mức án từ 02 năm đến 03 năm tù.

+ Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

+ Bị hại bà Nguyễn Thị Kim A không yêu cầu bồi thường gì thêm và đề nghị hội đồng xử phạt giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Nhân H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Vào 08 giờ 40 phút, tại nhà bà Nguyễn Thị Kim A ở thôn Đ, xã H, huyện N, Nguyễn Nhân H đã dùng vũ lực, dùng chăn che mặt, đè bà A xuống giường nhằm mục đích giao cấu trái ý muốn của bà A. Tuy nhiên, H chưa thực hiện được hành vi giao câu với bà A do bà A van xin và nói trong nhà có camera nên H sợ và bỏ chạy.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải truy tố bị cáo Nguyễn Nhân H về tội “Hiếp dâm” theo quy định khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo H chưa thực hiện được hành vi giao cấu với bà A do nguyên nhân ngoài ý muốn nên hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “phạm tội chưa đạt” theo quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự.

[3] Bị cáo Nguyễn Nhân H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác một cách trái pháp luật mà còn ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đối với người cao tuổi. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo H mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục riêng, đồng thời có tác dụng phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Do bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “phạm tội chưa đạt” nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 57 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, bà A không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quá trình điều tra, ông N đã tự nguyện bồi thường cho bị hại thay cho bị cáo. Tại phiên toà, ông N không có yêu cầu gì về số tiền này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Đối với hành vi trộm điện thoại hiệu Vivo trị giá 1.500.000₫ của bà A chưa đủ định lượng để khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” nên Cơ quan điều tra đã xử lý hành chính đôi với H là có căn cứ.

[7] Về xử lý vật chứng: 01 chiếc áo khoác, 01 cái quần lót của H là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ. Đối với 01 ốp lưng điện thoại di động của bà A: bà A không yêu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

[8] Về án phí: Bị cáo H là người bị kết án nên phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 141; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 57, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhân H phạm tội “Hiếp dâm”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhân H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 19/01/2024.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo khoác màu đỏ, 01 cái quần lót nam màu xanh, 01 ốp lưng điện thoại di động theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/4/2024 giữa cơ quan điều tra Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải.

- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Nhân H phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/5/2024./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Hải;
  • - Công an huyện Ninh Hải;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Hải;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - UBND xã H;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: án văn, hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đinh Thị Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 20/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 18 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger