TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 20/2024/HS-ST Ngày: 16 - 5 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH – TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Tiếng Thơ
2/ Bà Phan Thị Hồng Loan
Thư ký phiên tòa: Bà Dư Thị Kiều Uyên – Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Tẻh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thuỳ Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với:
* Bị cáo: Võ Đoàn Đình N – Sinh ngày 29 tháng 4 năm 2002, tại: Lâm Đồng; Nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Thợ sửa xe máy; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Đ – Sinh năm 1960 và bà Đoàn Thị D – Sinh năm 1962; Vợ: Phan Thị Bích N1, sinh năm 2003; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không. Về nhân thân: Ngày 23/3/2021, bị Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, đã được xoá án tích; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/12/2023 đến 05/01/2024, sau đó chuyển tạm giam đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Có mặt”.
* Người làm chứng:
Ông Lê Mậu H, Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng
“ Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 30 ngày 30/12/2023, lực lượng CSĐTTP về HS-KT-MT - Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang Võ Đoàn Đình N2 có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tại Thôn C, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Tang vật thu giữ là 01 (một) gói nylon kích thước 2,5cm x 02cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma tuý, N2 khai nhận gói nylon này là ma tuý đá N2 mua với số tiền 500.000₫ (Năm trăm ngàn đồng) với mục đích để sử dụng.
Công an huyện Đ đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tiến hành tạm giữ và niêm phong tang vật theo đúng quy định đồng thời đưa Võ Đoàn Đình N2 về trụ sở Công an huyện Đ để làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, Võ Đoàn Đình N2 khai nhận: Vào khoảng 08 giờ sáng ngày 30/12/2023, N2 gọi điện thoại cho Hoàng s (không rõ địa chỉ) để hỏi mua ma tuý đá với số tiền 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng), do trước đó H1 còn nợ tiền sửa xe của N2 nên N2 lấy ma túy để trừ nợ. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, có một nam thanh niên, N2 chỉ biết tên Trần Thiên Â, nhà ở TDP1, TT. Đ đến tiệm sửa xe rồi đưa cho N2 01 gói ma tuý đá, N2 cất gói ma tuý đá này vào trong người. Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày khi N2 đang ngồi trên giường trong tiệm sửa xe của N2 thì bị lực lượng Công an huyện Đ ập vào kiểm tra tiệm S1 thì N2 bỏ chạy ra cửa hông tiệm sửa xe và lấy gói ma tuý đá trong người ra ném xuống nền đất, lực lượng Công an huyện Đ yêu cầu N2 nhặt lên, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 (một) gói nylon kích thước 2,5cm x 02cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng (nghi là ma tuý).
Kết quả thử test nước tiểu ngày 31/12/2023 xác định Võ Đoàn Đình N2 dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số 1689/KL-KTHS ngày 03/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận:
Mẫu tinh thể đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,3703g (không phẩy ba bảy không ba gam), loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKSĐT ngày 04/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Tẻh truy tố bị cáo Võ Đoàn Đình N2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Tẻh giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Đoàn Đình N2 từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù và không đề nghị án dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và về án phí.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo N2 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và thừa nhận: Vào khoảng hơn 14 giờ 30 phút ngày 30/12/2023, tại Thôn C, xã Q, huyện Đ, lực lượng Công an huyện Đ kiểm tra và bắt quả tang bị cáo Võ Đoàn Đình N2 có hành vi tàng trữ 01 (một) bịch nylon kích thước 2,5cm x 02cm được hàn kín bốn cạnh, bên trong có chứa 0,3703 gam (không phẩy ba bảy không ba gam) ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng. Qua lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo N2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi ấy đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự; gây tác hại cho sức khỏe và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an tại địa phương. Tại phiên toà, bị cáo N2 khai nhận: Bị cáo là người nghiện ma tuý, bị cáo nhận thức được tác hại của các chất ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý mua ma tuý về để sử dụng, cho thấy bị cáo là người coi thường pháp luật. Về nhân thân: Ngày 23/3/2021, bị cáo bị Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Vì vậy, cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo nhằm tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, vì: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải; bị cáo có bà nội là Nguyễn Thị L là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Ngoài ra, đối với người tên Hoàng S và Trần Thiên  đã bán và vận chuyển ma túy đến cho bị cáo N2, nhưng bị cáo N2 không biết nhân thân, lai lịch cụ thể nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý là phù hợp.
[4] Về vật chứng của vụ án: 02 (hai) phong bì được niêm phong, có chữ ký của Võ Như T, Hoàng Thị Thanh H2, Nguyễn Tài A, trên phong bì có dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh L bao gồm: 01 phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định và 01 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định 0,2077 gam. Xét thấy, đây là vật chứng cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
[5] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Võ Đoàn Đình N2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Đoàn Đình N2 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 12 năm 2023.
- Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) phong bì được niêm phong, có chữ ký của Võ Như T, Hoàng Thị Thanh H2, Nguyễn Tài A, trên phong bì có dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh L bao gồm: 01 phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định và 01 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định 0,2077 gam. Chi tiết của vật chứng trên được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 05/4/2024 giữa cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ Tẻh.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo N2 phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Dương Văn Hùng |
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH – TỈNH LÂM ĐỒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH – TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
