Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16 - 4 - 2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Lệ Thi, bà Võ Thị Thanh Phương.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Đạt, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kim Thoa –Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 375/2023/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2024/QÐST - DS ngày 29 tháng 3 năm 2024, giữa:

  • - Nguyên đơn: Huỳnh Thị Ngọc T, sinh năm 1998; nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang, (vắng mặt, và có đơn yêu cầu xét xử văng mặt).
  • - Bị đơn: Ông Lưu Minh T1, sinh năm 1931; nơi cư trú: tổ D, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc T trình bày: Bà T và ông T1 tiến đến hôn nhân vào năm 2018, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại gia đình bà T tại tổ A, khóm V, phường V, thành phố C. Quá trình chung sống, khoảng năm 2022, vợ chồng thường xuyên cãi nhau và ông T1 đánh bà T khoảng 2,3 lần, nguyên nhân do ông T1 thường xuyên uống rượu, không lo làm ăn để phụ giúp kinh tế gia đình, bà T đã cho ông T1 cơ hội để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng ôngThương vẫn không thay đổi. Hôn nhân không hạnh phúc nên bà T yêu cầu ly hôn với ông T1.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 01 con chung tên Lưu Thị Ngọc T2, sinh ngày 21/5/2019. Bà T yêu cầu nuôi con, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông T1 nhưng ông T1 không cung cấp lời khai và không đến Tòa án để tham gia hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa,

Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

  • - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.
  • - Việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên xem như từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình và thuộc trường hợp xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
  • - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Giữa bà T và ông T1 có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Bà T và ông T1 xảy ra mâu thuẫn, không còn sống chung với nhau, trong thời gian xa cách cũng như quá trình hòa giải của Tòa án cả hai không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà T yêu cầu ly hôn với ông T1 là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Bà T yêu cầu được nuôi con chung tên Lưu Thị Ngọc T2, sinh ngày 21/5/2019 do bà T đang nuôi dạy. Do đó, để ổn định cuộc sống, bảo đảm quyền lợi về mọi mặt cho cháu T2, nên giao bà T tiếp tục nuôi dạy con chung là phù hợp; ghi nhận sự tự nguyện của bà T về việc không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung nợ chung: không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Từ phân tích trên, Căn cứ các Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị HĐXX xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lưu Minh T1. Bị đơn ông T1 có nơi cư trú tại tổ D, khóm C, phường C, thành phố C. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bà T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Ông T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

* Về nội dung:

[3] Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Ngọc T và ông Lưu Minh T1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố C, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số 44/2018, ngày 21/9/2018 nên là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Theo lời khai của bà T nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên cãi nhau và ông T1 đánh bà T khoảng 2,3 lần, ông T1 thường xuyên uống rượu, không lo làm ăn để phụ giúp kinh tế gia đình.

Qua xác minh tại Văn phòng khóm V, phường V được biết: Bà T, ông T1 có sống chung nhà tại tổ A, khóm V, phường V, có cãi nhau nhưng không rõ nguyên nhân và không còn sống chung từ trước tết Nguyên Đán năm 2024.

Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và sống chung với nhau. Tuy nhiên, bà T, ông T1 lại thường xuyên cãi nhau, ông T1 biết việc bà T khởi kiện ly hôn nhưng không cung cấp lời khai, không đến Tòa án để hòa giải, cho thấy không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ đó cho thấy hôn nhân giữa bà T, ông T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, có kéo dài quan hệ hôn nhân thì mục đích hôn nhân cũng không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T về việc ly hôn với ông T1 theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà T và ông T1 có 01 con chung tên Lưu Thị Ngọc T2, sinh ngày 21/5/2019 đang sống cùng bà T. Xét thấy, bà T có yêu cầu được nuôi con nên để ổn định môi trường sống cũng như sinh hoạt của con chung, Hội đồng xét xử xét quyết định giao con chung cho bà T tiếp tục nuôi dạy cho đến khi trưởng thành và có khả năng lao động.

[5] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của bà T.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Bà T khai không có nên không đề cập để xem xét giải quyết.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Ông T1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào các Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Ngọc T.

  1. Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Ngọc T được ly hôn với ông Lưu Minh T1.
  2. Giấy chứng nhận kết hôn số 44/2018, đăng ký ngày 21/9/2018 của Ủy ban nhân dân phường V, thành phố C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

  3. Về con chung: Bà Huỳnh Thị Ngọc T được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Lưu Thị Ngọc T2, sinh ngày 21/5/2019, cho đến khi trưởng thành và có khả năng lao động. Ông Lưu Minh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
  4. Bà Huỳnh Thị Ngọc T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Lưu Minh T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
  6. Bà Huỳnh Thị Ngọc T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003010 ngày 08 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, bà T đã nộp đủ án phí.

    Ông Lưu Minh T1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Bà Huỳnh Thị Ngọc T và ông Lưu Minh T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Châu Đốc (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Chi cục THADS TP.Châu Đốc (1);
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã, phường nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Đại Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 20/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger