Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 20/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16 - 4 - 2024

V/v: Ly hôn, nuôi con chung

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Chinh;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Xanh;

Ông Đoàn Xuân Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Khắc Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 02/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2024 về việc: “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 14/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: anh Tạ Văn Á; sinh năm 1986; nơi thường trú: Tổ D, Khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở: T, 2-7-35-206 S, K, Kagawa K1, Nhật Bản; vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền cho anh Tạ Văn Á: bà Bùi Thị T; sinh năm 1988; nơi cư trú: tổ E, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội; có mặt.

- Bị đơn: chị Vũ Thị M; sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ D, Khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và bản tự khai bổ sung, nguyên đơn anh Tạ Văn Á trình bày:

Anh và chị Vũ Thị M đăng ký kết hôn tháng 6/2009 tại UBND phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đầu năm 2017 do khó khăn về kinh tế nên anh Ánh đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Đến đầu năm 2020 thì vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, không hòa hợp trong cách sống, khác biệt trong suy nghĩ, quan điểm sống, liên tục xảy ra cãi vã, vợ chồng

nhiều lần ngồi nói chuyện với nhau tìm cách giải quyết nhưng không thể dung hòa được. Anh Ánh đã cố gắng giải quyết mâu thuẫn để tránh ảnh hưởng đến tâm lý của các con. Hiện nay anh Ánh đang làm việc và sinh sống tại Nhật Bản, vợ chồng đã ly thân hơn 03 năm nay, anh nhận thấy tình trạng hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không thành và không còn tình cảm với chị M nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Vũ Thị M.

Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là Tạ Vũ Tường V, sinh ngày 06/02/2010 và Tạ Chí T1, sinh ngày: 24/08/2011. Hiện nay con chung đang ở cùng với chị M, khi ly hôn, anh Ánh đề nghị Tòa án giao con chung cho chị M được trực tiếp chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành và mỗi tháng, anh Ánh cấp dưỡng cho mỗi con chung là 2.500.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung, vay nợ chung: vợ chồng tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản lấy lời khai đề ngày 30/01/2024 của chị Vũ Thị M và Biên bản tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, thể hiện: về quá trình kết hôn, quá trình sống chung phù hợp với quan điểm của anh Ánh trình bày nêu trên. Khoảng tháng 3/2017, anh Á tự ý đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản nhưng không được sự đồng ý của chị M. Từ khi anh Ánh đi Nhật Bản đến nay thì anh Ánh mới về Việt Nam được một lần vào cuối năm 2022, được khoảng 02 tháng. Trong thời gian anh Ánh ở Nhật Bản, anh Ánh vẫn thường xuyên liên lạc cho chị, hỏi thăm các con và gửi tiền nuôi dưỡng các con, trung bình mỗi tháng khoảng 2.000.000 đồng, sau này anh Ánh có gửi thêm là khoảng 2.500.000 đồng/tháng cho hai con. Đối với yêu cầu xin ly hôn của anh Ánh, chị M không đồng ý vì giữa chị và anh Ánh không hề có bất cứ mâu thuẫn gì, vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc nói chuyện với nhau, anh Ánh đi nước ngoài nhiều năm, chị M vẫn ở nhà chờ anh Á về. Ban đầu anh Ánh nói chỉ đi xuất khẩu lao động 03 năm sẽ về, khi hết 03 năm thì anh Ánh nói ở lại Nhật Bản làm thêm 02 năm nữa để có tiền lo cho các con sau này còn học đại học, chị M cũng đồng ý chờ thêm vì nghĩ 02 năm cũng sẽ trôi qua nhanh. Việc anh Ánh nộp đơn xin ly hôn, chị M hoàn toàn không biết, cách đây hơn 01 tháng thì anh Ánh có gọi điện bảo chị M làm đơn xin ly hôn, nhưng chị M cũng nói là giữa hai vợ chồng không có mâu thuẫn gì nên chị M không làm đơn xin ly hôn. Nay anh Ánh làm đơn xin ly hôn, chị M hoàn toàn không đồng ý và chị M cũng không đồng ý việc anh Á vắng mặt tại Tòa án

Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là Tạ Vũ Tường V, sinh ngày 06/02/2010 và Tạ Chí T1, sinh ngày: 24/08/2011. Hiện nay con chung đang ở cùng với chị M, khi ly hôn, chị M đề nghị Tòa án giao con chung cho chị được trực tiếp chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị M yêu cầu anh Ánh phải cấp dưỡng cho mỗi con chung là 5.000.000 đồng/tháng đến khi các con chung trưởng thành đủ 18 tuổi và yêu cầu anh Ánh phải cấp dưỡng một lần cho cả hai con chung tính đến thời điểm mỗi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản lấy lời khai, nguyện vọng của các cháu Tạ Vũ Tường V, sinh ngày 06/02/2010 và Tạ Chí T1, sinh ngày: 24/08/2011 đều thể hiện: có nguyện vọng được ở cùng với mẹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tại phiên tòa sơ thẩm phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký Toà án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 107; Điều 110; Điều 116; Điều 117; khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đề nghị:

Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Tạ Văn Á; anh Tạ Văn Á được ly hôn chị Vũ Thị M. Về con chung: giao cho chị Vũ Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung là Tạ Vũ Tường V, sinh ngày 06/02/2010 và Tạ Chí T1, sinh ngày: 24/08/2011, cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con chung: anh Tạ Văn Á có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cho mỗi con chung số tiền là: 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng)/01 tháng cho đến khi hai con chung thành niên (đủ 18 tuổi).

Không có căn cứ chấp nhận quan điểm của chị M về việc yêu cầu anh Ánh phải cấp dưỡng cho hai con chung số tiền 10 triệu đồng/1 tháng và phải đưa tiền cấp dưỡng một lần cho cả hai cháu tính đến thời điểm mỗi cháu đủ 18 tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn anh Tạ Văn Á và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn, nuôi con chung ”; nguyên đơn anh Tạ Văn Á hiện đang cư trú tại Nhật Bản. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Nguyên đơn anh Tạ Văn Á vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, và công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Anh Tạ Văn Á và chị Vũ Thị M đăng ký kết hôn ngày 30/6/2009 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Sau kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Năm 2017, anh Ánh đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Theo lời khai của anh Ánh thì mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, anh Ánh không còn tình cảm với chị M. Hội đồng xét xử nhận thấy: hiện tại, anh Ánh sinh sống và làm việc tại Nhật Bản từ năm 2017 và chỉ về nước một lần vào cuối năm 2022. Theo hợp đồng lao động, anh Ánh có nghĩa vụ đi lao động tại Nhật Bản trong thời gian 03 năm, sau đó anh Ánh gia hạn thêm 02 năm, đến nay đã hết thời hạn xuất khẩu lao động nhưng anh Ánh vẫn tiếp tục sinh sống và làm việc tại Nhật Bản. Như vậy, vợ chồng mỗi người ở một nơi, bên cạnh đó, anh Ánh không còn tình cảm với chị M, cả anh Ánh và chị M đều không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thấy chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Ánh và giải quyết cho anh Ánh được ly hôn với chị Vũ Thị M.

[3] Về con chung: anh Ánh và chị M có 02 con chung là Tạ Vũ Tường V, sinh ngày 06/02/2010 và Tạ Chí T1, sinh ngày: 24/08/2011, hiện nay con chung đang ở cùng với chị M nên khi Tòa án giải quyết cho anh Ánh và chị M ly hôn, anh Ánh đề nghị Tòa án giao các con chung cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Chị M cũng đồng ý giao con chung cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung sau khi ly hôn. Xét thấy quan điểm của anh Ánh và chị M về việc nuôi con chung sau khi ly hôn là phù hợp với điều kiện của chị M cũng như môi trường sống và nguyện vọng của con chung nên chấp nhận giao con chung cho chị M tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Ánh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: chị M có quan điểm yêu cầu anh Ánh phải cấp dưỡng cho mỗi con chung là 5.000.000 đồng/tháng đến khi các con chung trưởng thành đủ 18 tuổi và yêu cầu anh Ánh phải cấp dưỡng một lần cho cả hai con chung tính đến thời điểm mỗi con chung đủ 18 tuổi. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai anh Ánh đề nghị mỗi tháng anh Ánh cấp dưỡng cho mỗi con chung là 2.500.000 đồng đến khi các con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Xét yêu cầu về mức cấp dưỡng nuôi con chung của anh Ánh và chị M, Hội đồng xét xử thấy: anh Á đang

lao động nước ngoài có thu nhập, mặt khác, hiện nay các con chung của anh Ánh và chị M đang ở độ tuổi đi học, để các con được học tập và phát triển bình thường cũng như đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của các con thì yêu cầu của chị M buộc anh Ánh cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị M là có căn cứ. Tuy nhiên, nghĩa vụ nuôi con chung là thuộc về cả cha và mẹ, trong thời gian anh Ánh đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản, trung bình mỗi tháng đều gửi tiền cấp dưỡng cho các con là khoảng 2.000.000 đồng, sau này anh Ánh có gửi thêm là khoảng 2.500.000 đồng/tháng cho hai con. Tại phiên tòa người đại diện cho nguyên đơn anh Tạ Văn Á có quan điểm: qua trao đổi với anh Ánh thì anh Ánh đồng ý cấp dưỡng cho mỗi cháu 3.500.000 đồng/01 tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và cấp dưỡng định kỳ hàng tháng. Như vậy, có căn cứ chấp nhận đề nghị của anh Tạ Văn Á với mức cấp dưỡng là 3.500.000 đồng/01 tháng/01 con cho đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi) là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật; phù hợp với điều kiện kinh tế, hoàn cảnh thực tế của anh Tạ Văn Á, phù hợp với điều kiện học tập, sinh hoạt tại địa phương nơi chị M và các con chị M và anh Ánh đang sinh sống.

Đối với yêu cầu của chị M về việc anh Ánh phải cấp dưỡng một lần cho cả hai con chung tính đến thời điểm mỗi con chung đủ 18 tuổi. Xét thấy: anh Á là người đi lao động ở nước ngoài đã hết thời hạn; có quan điểm chỉ chấp nhận cấp dưỡng các con chung theo phương thức được thực hiện định kỳ hàng tháng và tại phiên tòa anh Ánh vắng mặt nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung một lần của chị M.

[5] Về tài sản chung và nợ chung giữa anh Ánh và chị M đều khai tự thỏa thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: nguyên đơn anh Ánh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 107; Điều 110; Điều 116; Điều 117; khoản 2 Điều 123 và Điều 107 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tạ Văn Á.

  1. Về quan hệ hôn nhân: anh Tạ Văn Á được ly hôn chị Vũ Thị M.
  2. Về con chung: giao cho chị Vũ Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung là Tạ Vũ Tường V, sinh ngày 06/02/2010 và Tạ Chí T1, sinh ngày: 24/08/2011, cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).
  3. Sau khi ly hôn, anh Tạ Văn Á có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh Tạ Văn Á lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Vũ Thị M có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy chị Vũ Thị M không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì anh Tạ Văn Á có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
  4. Về cấp dưỡng nuôi con chung: anh Tạ Văn Á có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung số tiền là: 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng)/01 tháng/01 con chung. Tổng cộng là: 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng)/01 tháng/02 con chung. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 4/2024 đến khi hai con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật.
  5. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của chị Vũ Thị M, nếu anh Tạ Văn Á không thực hiện hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền cấp dưỡng thì anh Tạ Văn Á còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm: anh Tạ Văn Á phải nộp 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí anh Ánh đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005733 ngày 04/01/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

Anh Tạ Văn Á phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung số tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Vũ Thị M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày. Anh Tạ Văn Á có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND cấp cao;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND phường Cẩm Trung;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trí Chinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 20/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tạ Văn A - Vũ Thị M
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger