|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2024/HS-ST
Ngày: 15 - 5 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nam
Các Hội thẩm nhân dân: ông Đỗ Cao Thế và ông Nguyễn Xuân Hành
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Trọng, Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2024/TLST - HS ngày 29 tháng 3 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với:
Bị cáo Từ Lê H; sinh ngày 21 tháng 7 năm 1999 tại: xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: thôn N, xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông Từ Minh S, sinh năm 1971 và bà Lê Thị Việt H1, sinh năm 1972, đều trú tại: thôn N, xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Gia đình bị cáo có 02 (hai) anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/01/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa
- Bị hại: Ông Nguyễn Thanh S1, sinh năm 1993, địa chỉ: thôn L,, xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Từ Minh S2, sinh năm 1971, địa chỉ: thôn N, xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt
+ Bà Lê Thị Việt H1, sinh năm 1972, địa chỉ: thôn N, xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; có mặt
+ Chị Từ Thị Khánh H2, sinh năm 1991, địa chỉ: thôn Đ, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; có mặt
+ Ông Từ Minh S3, sinh năm 1943, địa chỉ: thôn N, xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt
+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1942, địa chỉ: thôn N, xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 00 ngày 18/12/2023, Từ Lê H đang làm việc tại bãi tập kết vật liệu xây dựng và vận tải của công ty L thuộc thôn X, X, Quảng Ninh, Quảng Bình thì thấy 01 (một) chiêc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER 150, màu xanh bạc, mang BKS: 73G1-158.46 của anh Nguyễn Thanh S1 (sinh năm 1993; trú tại thôn L, T, Quảng Ninh, Quảng Bình) làm cùng công ty với H đang để ở mái hiên trước sân lán bảo vệ bãi tập kết có đặc điểm giống với xe mô tô của H đã bán trước đây. Lúc này, H đã nảy sinh ý định trộm chiếc xe mô tô của anh S1 để bố mẹ không phát hiện được việc H bán xe. Sau khi quan sát xung quanh không có người, H đi đến chiếc xe ô tô tải được công ty giao cho lái, tìm kiếm và lấy 01 (một) đoạn dây điện lõi đồng, vỏ bằng nhựa, màu đỏ, dài 03 cm (ba centimet) từ trong xe rồi đi đến chiếc xe mô tô của anh S1. H luồn tay phải vào khe hở ở mặt nạ phía trước của xe mở phần ngoài cục rơ le, lấy đoạn dây điện trên đấu vào phần còn lại của rơ le ở trong xe thì xe có điện. H nổ máy và điều khiển xe về nhà ông bà nội là ông Từ Minh S3 và bà Nguyễn Thị T tại thôn N, T, Quảng Ninh, Quảng Bình để cất, H xin để nhờ xe ở nhà ông bà nội với lý do để ở trên công trường bụi bặm và hay bị bạn bè mượn, ông S3 và bà T không biết chiếc xe trên do H trộm cắp mà có nên đồng ý. Sau đó, H mượn xe gắn máy của ông S3 trở lại bãi tập kết của công ty làm việc.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 30/TB-KLĐG ngày 29/12/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q định giá, kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER 150, số máy: G3D4E194894, số khung: 0610FY181980, màu sơn xanh bạc, mang BKS: 73G1-158.46 mà Từ Lê H trộm cắp của anh Nguyễn Thanh S1 có giá trị còn lại 26.000.000đ (hai mươi sáu triệu đồng).
- Về vật chứng: Ngày 25/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra Quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu số 59/QĐ-ĐCSHS-KT-MT, tạm giữ:
+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu YAMAHA EXCITER 150, số máy: G3D4E194894, số khung: 0610FY181980, màu sơn xanh bạc, mang BKS: 73G1-158.46, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong và 01 (một) rơ le của xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, màu đen, bên trên có khắc dòng chữ: YAMAHA 3C1-00 Omron 23Y5Y12; Ngày 05/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra Quyết định xử lý vật chứng số 80/QĐ-ĐCSHS-KT-MT, trả lại các tài sản đã thu giữ trên cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Thanh S1.
+ 01 (một) đoạn dây điện lõi đồng, vỏ bằng nhựa màu đỏ, chiều dài 03cm (ba centimet).
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thanh S1 đã nhận lại được chiếc xe mô tô bị trộm cắp và không có yêu cầu gì thêm.
Ông Từ Minh S3 và bà Nguyễn Thị T không biết chiếc xe một tô mà H gửi tại nhà ông, bà là do trộm cắp mà có, do đó không có cơ sở để xử lý ông S3, bà T.
Tại bản Cáo trạng số: 11/CT-VKS ngày 29 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Từ Lê H ra trước Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Từ Lê H thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã phát biểu lời luận tội, chứng minh và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Từ Lê H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Từ Lê H từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng.
Về vật chứng: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, mang BKS: 73G1-158.46; 01 (một) rơ le của xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, màu đen đã giải quyết tại cơ quan điều tra nên không xem xét.
Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy 01 (một) đoạn dây điện lõi đồng, vỏ bằng nhựa màu đỏ, chiều dài 03cm (ba centimet) là công cụ phạm tội của bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thanh S1 đã nhận lại đủ tài sản, anh S1 không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Án phí Hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan Điều tra, cơ quan Truy tố đã thực hiện đúng chức năng, thẩm quyền, ban hành các quyết định tố tụng theo đúng trình tự pháp luật quy định.
Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ được Cơ quan Điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sự vắng mặt của những người này không gây ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo. Căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Xem xét hành vi bị truy tố của bị cáo :
Tại phiên toà bị cáo Từ Lê H đã khai, thừa nhận toàn bộ hành vi như sau: vào khoảng 09 giờ 00 ngày 18/12/2023, tại bãi tập kết vật liệu xây dựng và vận tải của công ty L thuộc thôn X, X, Quảng Ninh, Quảng Bình, Từ Lê H thấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exiter 150, màu xanh bạc, mang BKS: 73G1-158.46, giống với chiếc xe của mình (Nhãn hiệu Yamaha Exiter mang BKS 73G1-263.16) trước đây đã bán nên nãy sinh ý định trộm cắp; mục đích để thay thế xe, che dấu gia đình về việc mình bán xe. Sau khi quan sát xung quanh không có người, H đã dùng đoạn dây điện lõi đồng, vỏ bằng nhựa, màu đỏ, dài 03 cm (ba centimet), luồn tay phải vào khe hở ở mặt nạ phía trước của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exiter 150, màu xanh bạc, mang BKS: 73G1-158.46, mở phần ngoài cục rơ le, lấy đoạn dây điện trên đấu vào phần còn lại của rơ le ở trong xe thì xe có điện. Sau khi nổ được máy, H điều khiển xe về nhà ông bà nội là ông Từ Minh S3 và bà Nguyễn Thị T tại thôn N, T, Quảng Ninh, Quảng Bình để cất gửi, sau đó H mượn xe gắn máy của ông S3 trở lại bãi tập kết của công ty làm việc.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 30/TB-KLĐG ngày 29/12/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q định giá, kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu mô tô nhãn hiệu Yamaha Exiter 150, sơn xanh bạc, mang BKS: 73G1-158.46, số máy: G3D4E194894, số khung: 0610FY181980 mà Từ Lê Hoàn trộm cắp của anh Nguyễn Thanh S1 có giá trị còn lại 26.000.000đ (hai mươi sáu triệu đồng).
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo Từ Lê H là người có năng lực hành vi trách nhiệm hình sự; đã cố tình, lợi dụng sơ hở của chủ tài sản, lén lút thực hiện hành vi trộm cắp, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố và kết luận của Kiểm sát viên phát biểu luận tội tại phiên tòa đối với bị cáo Từ Lê H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có cơ sở.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Từ Lê H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo được chính quyền địa phương xác nhận có công tham gia giúp chính quyền trong công tác cứu hộ nhân dân trong đợt lũ lớn 2020 và trong công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19 tại xã T, huyện Q. Vì vậy cần xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để lượng hình phạt.
[4] Xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và hình phạt:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình cho quần chúng nhân dân, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, công việc, gây tâm lý hoang mang cho người bị hại. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên khi xem xét để quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo trộm xe không đem đi tẩu tán, tiêu thụ ngay mà về cất gửi tại nhà ông bà nội là ông Từ Minh S3, bà Nguyễn Thị T với mục đích để thay thế và che dấu gia đình về việc chiếc xe trước đây đã bị bán. Điều này thể hiện bị cáo có động cơ, mục đích, suy nghĩ, nhận thức còn đơn giản, bột phát. Bị cáo có 02 tình tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, nơi ở ổn định, rõ ràng, không có biểu hiện trốn tránh nghĩa vụ của mình trong suốt quá trình tố tụng. Vì vậy, việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là không cần thiết, cho bị cáo được hưởng án treo là cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo, vừa cũng thể hiện chính sách khoan hồng pháp luật Nhà nước, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[5] Xem xét trách nhiệm những người có quyền, lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Từ Minh S3 và bà Nguyễn Thị T cho bị cáo Từ Lê H cất gửi xe trộm cắp tại nhà của mình, tuy nhiên khi đồng ý việc này, ông bà không biết được chiếc xe mô tô Hoàn gửi là do trộm cắp mà có, do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét xử lý ông S3, bà T.
Ông Từ Minh S, bà Lê Thị Việt H1, chị Từ Thị Khánh H2 đều khai chiếc xe một tô nhãn hiệu Yamaha Exiter mang BKS 73G1-263.16 có giấy chứng nhận mang tên Từ Thị Khánh H2, là do ông S, bà H1 góp một phần tiền cho H mua trả góp, do H chưa đủ tuổi để mua trả góp, nên chị H2 đứng tên mua giúp, mặc dù xe mang tên chị H2 nhưng thực tế H là chủ sở hữu chiếc xe. Việc H bán xe này, ông S, bà H1, chị H2 không có yêu cầu và ý kiến gì nên không có sơ sở để xem xét thêm trách nhiệm của bị cáo đối với hành vi này. Ông Từ Minh S, bà Lê Thị Việt H1, chị Từ Thị Khánh H2 không biết H bán xe, không biết việc H trộm cắp xe máy để thay thế chiếc xe đã bán, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét thêm.
[6] Về xử lý vật chứng:
Cơ quan CSĐT đã thu giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER 150, số máy: G3D4E194894, số khung: 0610FY181980, màu sơn xanh bạc, mang BKS: 73G1-158.46; và 01 (một) rơ le của xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, màu đen, bên trên có khắc dòng chữ: YAMAHA 3C1-00 Omron 23Y5Y12. Qua điều tra, xác minh các tài sản trên là của chủ sở hữu anh Nguyễn Thanh S1 nên ngày 05/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra Quyết định xử lý vật chứng số 80/QĐ-ĐCSHS-KT-MT, trả lại các tài sản này cho anh Nguyễn Thanh S1 là đúng quy định pháp luật. Hội đồng không xem xét thêm.
Đối với 01 (một) đoạn dây điện lõi đồng, vỏ bằng nhựa màu đỏ, chiều dài 03cm (ba centimet) bị thu giữ, đây là công cụ mà bị cáo dùng để phạm tội, không có giá trị sử dụng, căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về dân sự: Anh Nguyễn Thanh S1 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu bồi thường gì, Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Từ Lê H phạm tội “trộm cắp tài sản".
Xử phạt bị cáo Từ Lê H 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/5/2024.
Giao bị cáo Từ Lê H cho UBND xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình và gia đình bị cáo H có trách nhiệm cùng phối hợp để quản lý, giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) đoạn dây điện lõi đồng, vỏ bằng nhựa màu đỏ, chiều dài 03cm (ba centimet), theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/3/2024 giữa cơ quan CSĐT Công an huyện Q và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Buộc bị cáo Từ Lê H phải chịu nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.
4. Quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/5/2024). Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nam |
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Từ Lê Hoàn trộm cắp tài sản
