|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2024/HS-ST Ngày: 15 - 05 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kim Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Liên
Bà Bùi Thị Quy
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hồng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị La - Kiểm sát viên.
Người hỗ trợ phiên tòa tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện N gồm:
- Ông Nguyễn Văn C - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Sách.
- Bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách.
- Ông Nguyễn Huy K - Cán bộ Nhà tạm giữ Công an huyện N.
- Ông Nguyễn Thế T - Cán bộ Nhà tạm giữ Công an huyện N.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Sách và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xét xử trực tuyến, công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/TLST-HS, ngày 17/04/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Đình T1, sinh năm 1990 tại xã D, huyện T, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Thôn C, xã D, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình T2 và bà Nguyễn Thị M; có vợ là Lê Thị N (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/02/2024, đến ngày 06/02/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Hải Dương; có mặt.
* Người làm chứng: Anh Lý Văn T3; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 04/02/2024, Phạm Đình T1 cùng một người tên Đ (không rõ nhân thân, địa chỉ) đi mua ma túy để sử dụng. Đ điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở T1 đến cổng khu đô thị T - Q, thuộc địa phận xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương để tìm mua ma túy. Tại đây, T1 gặp bạn của Đ (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) và đặt vấn đề mua 300.000₫ ma túy. Người này cầm tiền và chỉ T1 ma túy được để trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long ở rìa đường bê tông gần nơi T1 đứng. Khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, khi T1 ra nơi cất giấu ma túy và cầm vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 gói ma túy trên tay thì bị Công an xã T phát hiện, bắt quả tang. T1 sợ hãi nên để bao thuốc lá Thăng Long bên trong có gói ma túy vừa mua được xuống đất cạnh chân phải T1 đang đứng. Công an xã T đã thu giữ 01 vỏ bao thuốc lá T, bên trong có 01 túi nilon, kích thước (2x2,5)cm, chứa chất tinh thể màu trắng tại nền bê tông, ngay sát vị trí T1 đứng. Cùng ngày, Công an xã T bàn giao hồ sơ và người bị bắt đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận giám định số 158/KL-KTHS ngày 05/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon, trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng được niêm phong trong phong bì, ghi thu tại vị trí dưới đất cạnh chân phải của Phạm Đình T1, gửi đến giám định khối lượng là 0,398g là ma túy, loại Methamphetamine.
Bản Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 16/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương truy tố Phạm Đình T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Phạm Đình T1 thành khẩn khai nhận như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách thực hành quyền công tố, trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đình T1 phạm tội
“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phạm Đình T1 từ 13 - 15 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 04/02/2024. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: 0,309g ma túy loại Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định đựng trong phong bì niêm phong vật chứng số 158/KL-KTHS của Phòng K1, Công an tỉnh H. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Đình T1 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 15 giờ 10 phút ngày 04/02/2024, tại cổng khu đô thị T - Q, thuộc địa phận xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương, Phạm Đình T1 có hành vi cất giấu trái phép 0,398g ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã T phát hiện, bắt quả tang.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất an ninh trật tự và ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc cất giấu trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản, do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: 0,309g ma túy loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định là chất cấm tàng trữ, lưu hành; 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định không có giá trị sử dụng, do vậy, cần tịch thu, tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[8] Đối với người đàn ông đi mua ma túy cùng với T1 và người bán ma túy cho T1, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, địa chỉ của 02 người này nên không có căn cứ xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đình T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Đình T1 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 04/02/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: 0,309g ma túy loại Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định đựng trong phong bì niêm phong vật chứng số 158/KL-KTHS của Phòng K1, Công an tỉnh H.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/4/2024 giữa Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách).
- Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Đình T1 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Đình T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kim Giang |
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Đình T bị xử phạt 15 tháng tù
