Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 20/2024/HS-PT

Ngày 14-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thu Hương

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Mạnh Hùng

Bà Phạm Mai Hằng

Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thùy Dương - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà:

Ông Hoàng Quốc Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 27/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo: Nguyễn Thị Huyền T; Bùi Huy HLê Thị Kim N. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HSST ngày 29-5-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Thị Huyền T (Tên gọi khác: Không); giới tính: Nữ; sinh ngày 09 tháng 08 năm 1989, tại thành phố Hà Nội; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H1 (đã chết); có chồng là: Đỗ Quang H2 và 02 con (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2014). Tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

  2. Bùi Huy H (Tên gọi khác: Không); giới tính: Nam; sinh ngày 14 tháng 08 năm 1989 tại tỉnh Yên Bái; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Đ và bà Trần Thị Hồng V; có vợ là Nguyễn Cẩm L và 02 con (lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2019). Tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

  3. Lê Thị Kim N (Tên gọi khác: Không); giới tính: Nữ; sinh ngày 06 tháng 11 năm 1983 tại tỉnh Phú Thọ. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố P, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn P (đã chết) và bà Dương Thị B; có chồng là Lại Tiến S1 (đã ly hôn) và 02 con (lớn sinh năm 2004, sinh năm 2012); tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại tổ dân phố P, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 18-12-2023 đến ngày 23-12-2023, Nguyễn Thị Huyền T nhận mua bán nhiều số lô, số đề, xiên ba, ba càng của Lê Thị Kim N, Hà Ngọc L1, Trần Thái B1 và một số người không rõ nhân thân, lai lịch qua tài khoản T1 và Z của T, đều được đăng ký bằng số điện thoại 0989.794.xxx, cài đặt trên chiếc điện thoại iphone 12 promax do T sử dụng. Sau đó T tổng hợp các số lô, số đề, xiên ba, ba càng lại và chuyển qua tin nhắn tài khoản Telegram của Bùi Huy H, để được hưởng tiền chênh lệch từ 500đồng đến 1000đồng/1 điểm lô, từ 2% - 7% tổng số tiền đề, xiên ba, ba càng, (với tỷ lệ chuyển cho H là 22.000đồng/1 điểm lô, 73%/ tổng số tiền đề, xiên ba, ba càng). Số tiền T đánh bạc được thua và số tiền T được hưởng lợi khi nhận mua bán các số lô, số đề, xiên ba, ba càng với các đối tượng trên theo từng ngày cụ thể như sau:

  • Ngày 18-12-2023: T đánh bạc với Hà Ngọc L1, Trần Thanh B2, L2 (không rõ nhân thân, lai lịch), Lê Thị Kim N, H3 (không rõ nhân thân, lai lịch) với tổng số tiền được thua là 12.900.000 đồng. T được hưởng lợi 238.200 đồng.

  • Ngày 19-12-2023: T đánh bạc với L1, B2, L2, N, H3 với tổng số tiền được thua là 21.907.500 đồng. T được hưởng lợi 390.700 đồng.

  • Ngày 20-12-2023: T đánh bạc với L1, B2, L2, N, H3 với tổng số tiền được thua là 14.510 000 đồng. T được hưởng 229.400đồng

  • Ngày 21-12-2023: T đánh bạc với L3, N, L2, H3, G (không rõ nhân thân, lai lịch) và một người đàn ông không rõ lai lịch, với tổng số tiền được thua là 14.065.000 đồng. T được hưởng lợi 129.200 đồng.

  • Ngày 22-12-2023: T đánh bạc với L1, N, L2, H3, G và một người đàn ông không rõ lai lịch, với tổng số tiền được thua là 58.325.000 đồng. T được hưởng lợi 408.600 đồng. Cụ thể: T bán cho G số đề là 500.000đồng (không trúng thưởng); bán cho L1 số lô và đề là 490.000đồng (không trúng thưởng); bán cho L2 số đề là 1.900.000đồng (không trúng thưởng); bán cho H3 số ba càng là 680.000đồng (không trúng thưởng); bán cho người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ 85 điểm lô là 6.755.000đồng (trúng 60 điểm lô do H trả thưởng); tổng số tiền bán số lô và số đề cho Lê Thị Kim N là 48.000.000đồng. Trong đó: Số đề là 4.500.000 đồng và 440 điểm lô là 9.900.000 đồng (T giữ lại 20 điểm lô để tự trả thưởng). N trúng thưởng 420 điểm lô là 33.600.000 đồng do H trả thưởng.

  • Ngày 23-12-2023: T đánh bạc với L1, N, Tưởng Thành N1 với tổng số tiền được thua là 25.030.000 đồng. T được hưởng lợi 573.100 đồng.

Ngoài ra T cũng tự mua của H các số lô, đề với số tiền 22.000đồng/ 1 điểm lô; đề, ba càng Hoàng trừ cho T 27% tổng số tiền. Cụ thể:

  • Lần thứ nhất: Ngày 18-12-2023 T mua nhiều số đề với số tiền 480.000 đồng. Không trúng thưởng.

  • Lần thứ hai: Ngày 19-12-2023 T mua nhiều số đề với số tiền 1.180.000 đồng. Không trúng thưởng.

  • Lần thứ ba: Ngày 20-12-2023 T mua 26 điểm lô = 616.000 đồng và 1.590.000 đồng tiền đề. Số tiền sử dụng đánh bạc là 2.206.000 đồng. Trúng thưởng 7 điểm lô = 560.000 đồng và 25.000 tiền đề = 1.750.000 đồng, tổng số tiền trúng thưởng 2.310.000 đồng. Như vậy, số tiền đánh bạc được thua là 4.516.000 đồng.

  • Lần thứ tư: Ngày 21-12-2023 T mua 700.000 đồng tiền đề và 150.000 đồng ba càng, số tiền sử dụng đánh bạc là 850.000 đồng. Không trúng thưởng.

  • Lần thứ năm: Ngày 22-12-2023 T mua 40 điểm lô = 880.000 đồng, 800.000 đồng tiền đề, 750.000 đồng tiền ba càng, số tiền sử dụng đánh bạc là 2.630.000 đồng. Trúng 50.000đ ba càng x 400 = 20.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc được thua là 22.630.000 đồng.

Đối với Lê Thị Kim N: Đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua, bán các số lô, số đề với T tổng số 06 lần với tổng số tiền là 102.542.500 đồng. Tổng số tiền T được hưởng lợi là 1.393.100 đồng. Cụ thể như sau:

  • Lần thứ nhất: Ngày 18-12-2023 N mua 400.000 đồng tiền đề, 360 điểm lô = 8.100.000 đồng và 100.000 đồng xiên ba. Số tiền sử dụng để đánh bạc là 8.600.000 đồng. Trúng thưởng 10 điểm lô = 800.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc được thua là 9.400.000 đồng. T hưởng lợi 8.000 đồng tiền đề + 180.000 đồng tiền lô + 2.000 đồng xiên ba = 190.000 đồng.

  • Lần thứ hai: Ngày 19-12-2023 N mua 5.650.000 đồng tiền đề, 415 điểm lô = 9.337.500 đồng và 100.000 đồng xiên ba. số tiền sử dụng để đánh bạc là 15.087.500 đồng. Trúng thưởng 15 điểm lô = 1.200.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc được thua là 16.287.500 đồng. T hưởng lợi 113.000 đồng tiền đề 207.500 đồng tiền lô + 2.000 đồng tiền xiên ba = 322.500 đồng.

  • Lần thứ ba: Ngày 20-12-2023 N mua 4.300.000 đồng tiền đề, 240 điểm lô = 5.400.000 đồng và 100.000 đồng tiền xiên ba. Số tiền sử dụng để đánh bạc là 9.800.000 đồng. Không trúng thưởng. T hưởng lợi 86.000 đồng tiền đề + 120.000 đồng tiền lô + 2.000 đồng tiền xiên ba = 208.000 đồng.

  • Lần thứ tư: Ngày 21-12-2023 N mua 30 điểm lô = 675.000 đồng và 100.000 đồng tiền xiên ba. số tiền sử dụng để đánh bạc là 775.000 đồng. Không trúng thưởng. T hưởng lợi 15.000 đồng tiền lô + 2.000 đồng tiền xiên ba = 17.000 đồng.

  • Lần thứ năm: Ngày 22-12-2023 N mua 4.500.000 đồng tiền đề và tổng 440 điểm lô = 9.900.000 đồng, số tiền sử dụng để đánh bạc là 14.400.000 đồng. N trúng thưởng 420 điểm lô = 33.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc được thua là 48.000.000 đồng.

    Trong số 440 điểm lô nhận của N thì T giữ lại 20 điểm lô để tự trả thưởng nên chỉ chuyển cho H 420 điểm. T hưởng lợi 90.000 đồng tiền đề + 210.000 đồng tiền lô (số tiền này không bao gồm tiền T tự giữ lại) = 300.000 đồng.

  • Lần thứ sáu: Ngày 23-12-2023 N mua 6.780.000 đồng tiền đề và 440 điểm lô = 9.900.000 đồng, số tiền sử dụng để đánh bạc là 16.680.000 đồng. Trúng thưởng 20 điểm lô = 1.600.000 đồng (N bị Cơ quan Công an triệu tập làm việc sau khi có kết quả xổ số). Tổng số tiền đánh bạc được thua là 18.280.000 đồng. T hưởng lợi 135.600 đồng tiền đề + 220.000 đồng tiền lô = 355.600 đồng

Tuy nhiên, do có mối quan hệ quen biết, chơi cùng nhau nên toàn bộ số tiền mua các số lô, số đề nêu trên, T và N chưa thanh toán thực tế cho nhau, chỉ thỏa thuận và tính chốt được thua trên tin nhắn.

Đối với Bùi Huy H: Do muốn kiếm thêm thu nhập nên H đồng ý nhận các số lô, số đề do T nhận từ khách và chuyển lại cho H. Sau đó Hoàng tự tổng hợp và trả thưởng, với số lô bán cho T là 22.000 đồng/1 điểm; số đề, xiên ba, ba càng tính 73% tổng số tiền (trừ 27% trên tổng số mua), cụ thể như sau:

  • Lần thứ nhất: Ngày 18-12-2023 H nhận của T 1.580.000 đồng tiền đề, 470 điểm lô = 10.340.000 đồng, 100.000 đồng tiền xiên ba, 360.000 đồng tiền ba càng. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc 12.380.000 đồng. Trúng 10 điểm lô = 800.000 đồng. Tổng số tiền được thua là 13.180.000 đồng.

  • Lần thứ hai: Ngày 19-12-2023 H nhận của T 9.330.000 đồng tiền đề, 505 điểm lô = 11.110.000 đồng, 100.000 đồng tiền xiên ba, 110.000 đồng tiền ba càng. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc 20.650.000đồng. Trúng 25 điểm lô = 2.000.000 đồng. Tổng số tiền được thua là 22.650.000 đồng.

  • Lần thứ ba: Ngày 20-12-2023 H nhận của T 7.370.000 đồng tiền đề, 368 điểm lô = 8.096.000 đồng, 100.000 đồng tiền xiên ba, 220.000 đồng ba càng. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc 15.786.000 đồng. Trúng 17 điểm lô và 25.000đ tiền đề = 3.110.000 đồng. Tổng số tiền được thua là 18.896.000 đồng.

  • Lần thứ tư: Ngày 21-12-2023 H nhận của T 2.510.000 đồng tiền đề, 220 điểm lô = 4.840.000 đồng, 150.000 đồng xiên ba, 100.000 đồng ba càng. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc 7.600.000 đồng. Trúng 90 điểm lô = 7.200.000 đồng. Tổng số tiền được thua là 14.800.000 đồng.

  • Lần thứ năm: Ngày 22-12-2023 H nhận của T 7.950.000 đồng tiền đề, 565 điểm lô = 12.430.000 đồng, 1.430.000 đồng ba càng. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc 21.810.000 đồng. Trúng 460 điểm lô và 50.000đồng ba càng = 56.800.000 đồng. Tổng số tiền được thua là 78.610.000 đồng.

  • Lần thứ sáu: Ngày 23-12-2023: H nhận của T 7.030.000 đồng tiền đề, 690 điểm lô = 15.180.000 đồng, số tiền sử dụng đánh bạc 22.210.000 đồng. Trúng 90 điểm lô = 7.200.000 đồng. Tổng số tiền được thua 29.410.000 đồng.

Tổng số tiền Bùi Huy H đã nhận mua, bán các số lô, số đề, xiên ba, ba càng của Nguyễn Thị Huyền T trong 06 lần nêu trên là 177.546.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc thực tế T đã thanh toán cho H là: 37.437.000 đồng (Số tiền này bao gồm tiền những người mua đã thanh toán cho T và tiền T tự ứng ra để chuyển trả cho H). Tổng số tiền đánh bạc thực tế H đã chuyển cho T là 38.013.000 đồng. Toàn bộ số tiền hưởng lợi cũng như số tiền dùng để đánh bạc, ngoài số tiền chuyển cho H và số tiền 38.000.000 đồng (trong số tiền 60.000.000 đồng tạm giữ khi khám xét), số còn lại T đã tiêu xài hết cho bản thân; H cũng đã tiêu xài cá nhân hết).

Sau khi T bị Cơ quan Công an phát hiện về hành vi đánh bạc, Bùi Huy H đã bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 10-01-2024 H đã đến Công an thành phố Y đầu thú.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HSST ngày 29-5-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái đã quyết định:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Huyền T, Bùi Huy H phạm tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc”. Bị cáo Lê Thị Kim N phạm tội “Đánh bạc”.

  2. Về hình phạt:

    1. Đối với Nguyễn Thị Huyền T:

      • Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Thị Huyền T 01 năm 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền 15.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

      • Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Thị Huyền T 01 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền 20.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước

      • Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc Nguyễn Thị Huyền T phải chấp hành hình phạt cho cả hai tội Đánh bạc và "Tổ chức đánh bạc” là 03 (Ba) năm tù. Phạt tiền 35.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

    2. Đối với Bùi Huy H:

      • Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điệu 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bùi Huy H 01 năm 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền 15.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

      • Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bùi Huy H 01 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền 20.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

      • Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc Bùi Huy H phải chấp hành hình phạt cho cả hai tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” là 02 năm 09 tháng tù. Phạt tiền 35.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

    3. Đối với Lê Thị Kim N: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Lê Thị Kim N 01 năm 06 tháng tù. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền 10.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

  • Ngày 07-6-2024, các bị cáo Nguyễn Thị Huyền TLê Thị Kim N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Đồng thời, bị cáo T giao nộp 02 giấy xác nhận người tốt, việc tốt.

  • Ngày 10-6-2024, bị cáo Bùi Huy H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Trong giai đoạn phúc thẩm: Các bị cáo T, H và N giao nộp: Biên lai thu tiền án phí hình sự sơ thẩm và biên lai thu tiền phạt; bị cáo N giao nộp thêm 01 giấy xác nhận lập công.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xác định bản án sơ thẩm xét xử đúng người, đúng tội, không oan. Các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định.

Về nội dung:

  • Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Huyền TBùi Huy H. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng giảm một phần hình phạt tù không cho hưởng án treo đối với các bị cáo Nguyễn Thị Huyền TBùi Huy H;

  • Áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Lê Thị Kim N. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng giảm một phần hình phạt tù và cho hưởng án treo đối với bị cáo Lê Thị Kim N.

Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đề nghị giữ nguyên.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo nội dung kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự

Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Huyền T, Bùi Huy HLê Thị Kim N đúng hình thức, trong hạn luật định, đủ điều kiện để giải quyết phúc thẩm.

[2] Về tội danh và hình phạt:

[2.1] Về tội danh:

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Thị Huyền T, Bùi Huy HLê Thị Kim N thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Nên đã có đủ cơ sở xác định: Từ ngày 18-12-2023 đến ngày 23-12-2023, Bùi Huy HNguyễn Thị Huyền T đã nhiều lần thực hiện hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho nhiều đối tượng. Trong đó, T là người trực tiếp nhận bán các số lô, số đề với người chơi, sau đó tổng hợp số liệu chuyển cho Bùi Huy H thông qua tài khoản tin nhắn Telegram của H để được hưởng tiền chênh lệch từ 500đồng đến 1000đồng/01 điểm lô; từ 2% đến 7% tiền đề. Cụ thể như sau:

Đối với Nguyễn Thị Huyền T: Đã nhiều lần thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc và hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức mua, bán các số lô; số đề cho các đối tượng là Hà Ngọc L1, Trần Thái B1, Lê Thị Kim N, Tưởng Thành N1 và một số người không rõ nhân thân, lai lịch với tổng số tiền là 146.737.500 đồng. (T được hưởng lợi tổng số tiền là 1.969.200 đồng). Cụ thể: Trong các ngày 19, 22 và 23-12-2023 T đã 03 lần tổ chức đánh bạc cho các đối tượng trên với số tiền dùng đánh bạc trong cùng một lần thấp nhất là 21.907.500 đồng; cao nhất là 58.325.000 đồng (trị giá 20.000.000 đồng trở lên). Sau khi nhận các số lô, số đề của người mua trên, T đã chuyển lại cho Bùi Huy H để hưởng lợi (hưởng phần trăm chênh lệch). Hành vi của Nguyễn Thị Huyền T đã phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, trong các ngày 18, 20 và 21-12-2023 T đã 03 lần thực hiện hành vi đánh bạc cho các đối tượng trên với số tiền đánh bạc cao nhất trong cùng một lần là 14.065.000 đồng (dưới 20.000.000 đồng) và ngày 22-12-2023 T còn thực hiện hành vi mua, bán các số lô, số đề với Bùi Huy H với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 22.630.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Thị Huyền T đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Đối với Bùi Huy H: Đã nhiều lần tổ chức đánh bạc và đánh bạc dưới hình thức nhận số lô, số đề của Nguyễn Thị Huyền T nhận mua, bán từ các đối tượng nêu trên. Sau đó, T chuyển lại cho H để H tổng hợp bảng và trả thưởng với tổng số tiền là 177.546.000 đồng. Cụ thể: Trong các ngày 19, 22 và 23-12-2023 H đã 03 lần tổ chức đánh bạc với T, số tiền dùng đánh bạc trong cùng một lần thấp nhất là 22.650.000 đồng; cao nhất là 78.610.000 đồng (trị giá 20.000.000 đồng trở lên). Hành vi của Bùi Huy H đã phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, trong các ngày 18, 20 và 21-12-2023 H đã 03 lần thực hiện hành vi đánh bạc với T, số tiền đánh bạc cao nhất trong cùng một lần là 18.896.000 đồng (dưới 20.000.000 đồng). Hành vi của Bùi Huy H đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Đối với Lê Thị Kim N: Từ ngày 18 đến ngày 23-12-2023, N đã 05 lần thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức mua bán số lô, số đề với Nguyễn Thị Huyền T với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 102.542.500 đồng. Trong đó: Số tiền thấp nhất dùng vào việc đánh bạc trong cùng một lần có trị giá là 9.400.000 đồng; số tiền cao nhất là 48.000.000 đồng. Hành vi của Lê Thị Kim N đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, Bản án số: 30/2024/HSST ngày 29-5-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái đã tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Huyền T, Bùi Huy H phạm tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo Lê Thị Kim N phạm tội “Đánh bạc” là có căn cứ.

[2.2] Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Huyền T, Bùi Huy HLê Thị Kim N. Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.2.1] Đối với bị cáo Nguyễn Thị Huyền T và bị cáo Bùi Huy H: Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cho bị cáo T và bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự vì đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm; được Công an phường xác nhận gương người tốt, việc tốt; bị cáo đầu thú; bố đẻ của bị cáo H được tặng kỷ niệm chương của Bộ X. Do phạm tội nhiều lần nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Huyền T 01 năm 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” và 01 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo Bùi Huy H 01 năm 03 tháng tù về tội “Đánh bạc” và 01 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” là phù hợp với tính chất và mức độ hành vi của các bị cáo.

Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án bị cáo H đã phát hiện tội phạm mua bán trái phép chất ma túy. Sau đó, Công an phường Y, thành phố Y đã chuyển hồ sơ đề nghị khởi tố vụ án. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội lập công” quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo Hoàng hưởng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm” quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là chưa chính xác. Các bị cáo T và H bị xét xử cùng một lần về hai tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” nên cần phải áp dụng biện pháp nghiêm khắc cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo.

Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo T và bị cáo H giao nộp: Biên lai thu tiền án phí hình sự sơ thẩm và biên lai thu tiền phạt, thể hiện các bị cáo đã tích cực thực hiện quyết định của bản án sơ thẩm. Ngoài ra, bị cáo T đã giao nộp 02 giấy xác nhận người tốt, việc tốt, nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt để giảm một phần hình phạt tù đối với hai tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” cho các bị cáo.

[2.2.2] Đối với bị cáo Lê Thị Kim N: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là “thành khẩn khai báo” và bị cáo được “biểu dương về gương người tốt, việc tốt”. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự do phạm tội hai lần trở lên. Nên mức hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Lê Thị Kim N là phù hợp.

Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo N nộp thêm tài liệu thể hiện bị cáo đã lập công chuộc tội (cung cấp thông tin, tố giác một đối tượng có hành vi mua bán trái phép chất ma túy) cho Cơ quan Công an và bị cáo đã thực hiện xong số tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền phạt theo quyết định của bản án sơ thẩm. Đây là 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại điểm u khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo N có nhân thân tốt; có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng. Nên cần giảm một phần hình phạt và thấy rằng việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là không cần thiết, cần áp dụng chế định Điều 65 của Bộ luật Hình sự vẫn đảm bảo việc cải tạo giáo dục đối với bị cáo.

Từ những phân tích và lập luận trên, Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với hai tội “ Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” của các bị cáo Nguyễn Thị Huyền TBùi Huy H; chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Lê Thị Kim N. Sửa bản án sơ thẩm số: 30/2024/HSST ngày 29-5-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

[3] Việc sửa Bản án sơ thẩm là do phát sinh tình tiết mới trong giai đoạn xét xử phúc thẩm.

[4] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Nên được chấp nhận.

[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Huyền TBùi Huy H; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Kim N. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2024/HSST ngày 29-5-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái về phần hình phạt đối với các bị cáo như sau:

    1. Đối với bị cáo Nguyễn Thị Huyền T:

      • Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Thị Huyền T 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền 15.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

      • Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Thị Huyền T 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền 20.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

      • Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc Nguyễn Thị Huyền T phải chấp hành hình phạt cho cả hai tội “Đánh bạc” và "Tổ chức đánh bạc” là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Phạt tiền 35.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

    2. Đối với bị cáo Bùi Huy H:

      • Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bùi Huy H 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền 15.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

      • Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bùi Huy H 01 (một) năm về tội “Tổ chức đánh bạc”. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền 20.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

      • Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc Bùi Huy H phải chấp hành hình phạt cho cả hai tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Phạt tiền 35.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

    3. Đối với bị cáo Lê Thị Kim N: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Lê Thị Kim N 06 (sáu) tháng tù về tội “đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 14-8-2024).

      Giao bị cáo Lê Thị Kim N cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Lê Thị Kim N có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường N trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

      Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Các bị cáo Nguyễn Thị Huyền T2 ng, Bùi Huy HLê Thị Kim N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT I);
  • - TANDCC tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Yên Bái;
  • - Toà án, VKS, CA Tp Yên Bái;
  • - Chi cục THADS TP Yên Bái;
  • - UBND phường Nguyễn Phúc, thành phố Yên Bái;
  • - Bị cáo (theo địa chỉ tại ngoại);
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP, TA.
  • - Lưu: HS, tập án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thu Hương

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA

PHIÊN TÒA

Đỗ Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HS-PT ngày 14/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI về vụ án hình sự phúc thẩm (tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc)

  • Số bản án: 20/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm (Tội Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Huyền T, Bùi Huy H, Lê Thị Kim N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger