|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2024/HS-ST Ngày: 14 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Khanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bình
Ông Nguyễn Tuấn Chiến
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trung Thành - Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Kim Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn D; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 03/04/1966; Nơi cư trú: Khu T, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/10; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: ông Nguyễn Văn D1, đã chết; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị K, sinh năm 1937; Vợ: Vũ Thị L sinh năm 1968. Đã ly hôn; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Bản án hình sự số 19/1999/HSST ngày 21/9/1999 của TAND huyện Đoan Hùng, xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 30 tháng về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Bị cáo D đã chấp hành xong bản án hình sự số 19/1999/HSST ngày 21/9/1999 của TAND huyện Đoan Hùng, tính đến nay đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/02/2024, đến ngày 27/02/2024 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).
2. Họ và tên: Nguyễn Văn N; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 01/5/1962; Nơi cư trú: Khu H, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng phái: Không; Bố đẻ: Nguyễn Văn H, đã chết; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị L1, đã chết; Vợ: Vũ Thị H1, sinh năm 1966; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án 54/2022/HS-ST ngày 15/9/2022 của TAND tỉnh Phú Thọ, xử phạt 25.000.000đ về tội Đánh bạc, đã chấp hành xong ngày 25/11/2022, chấp hành xong án phí ngày 15/9/2022. Bị cáo đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/02/2024, đến ngày 27/02/2024 được hủy bỏ tạm giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (Có mặt);
3. Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 23/9/1983; Nơi cư trú: Khu H, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Hoàng C, sinh năm 1958; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị D2, sinh năm 1961; Vợ: Đào Thùy D3 sinh năm 1986 đã ly hôn; Con: có 03 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Ngày 21/01/2015, bị TAND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã nộp xong án phí sơ thẩm ngày 19/3/2019. Đã được xóa án tích.
- + Ngày 15/9/2015, bị TAND huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt 1 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với Bản án số 17/2015/HSST ngày 21/01/2015 của TAND thành phố Thái Nguyên, buộc Nguyễn Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là: 02 năm tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 10/9/2016. Đã nộp xong án phí sơ thẩm tháng 1/2016. Đã được xóa án tích.
- + Ngày 21/3/2019 bị TAND huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ xử phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 27/8/2019. Chấp hành xong án phí ngày 21/3/2019. Đã được xóa án tích
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (Có mặt);
4. Họ và tên: Nguyễn Hồng P; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 01/03/1967; Nơi cư trú: khu H, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/10; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Văn T1 sinh năm 1915, (đã chết); Mẹ đẻ: Lã Thị T2 sinh năm 1925(đã chết); Vợ: Đinh Thị K1, sinh năm 1972; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 09/01/2014 bị Công an huyện Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, xử phạt 1.500.000đ về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt ngày 14/01/2014, coi như chưa bị xử lý hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/02/2024 đến ngày 27/02/2024 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (Có mặt);
5. Họ và tên: Cao Duy Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 20/4/1969; Nơi cư trú: Khu P, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 1/10; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Cao Đức T3, sinh năm 1938 đã chết; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị P1, sinh năm 1943; Vợ: Lã Thị T4, sinh năm 1979; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/02/2024 đến ngày 27/02/2024 được hủy bỏ tạm giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (Có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng từ 13 giờ 30 đến 14 giờ ngày 21/02/2024, Nguyễn Văn D, sinh năm 1966, ở khu T, xã P, huyện Đ, Nguyễn Hồng P, sinh năm 1967, Nguyễn Văn N, sinh năm 1962, đều ở khu H, xã P, huyện Đ và Nguyễn Văn T, sinh năm 1983, ở khu H, xã N, huyện Đ lần lượt đến trang trại nuôi gà ở khu H, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ của Cao Duy Đ, sinh năm 1969, ở khu P, xã T, để uống nước. Tại đây, Nguyễn Văn D rủ mọi người đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa, thắng thua bằng tiền, tất cả đồng ý. T nhặt vỏ hộp thuốc thú y đã dùng hết rồi lấy chiếc kéo có sẵn trong lán trại cắt thành 04 quân vị hình tròn đều có đường kính 02cm, một mặt màu xám và một mặt màu xanh. Sau đó T cầm kéo, 04 quân vị, 01 bát sứ màu trắng và 01 đĩa sứ màu trắng, Dương cầm 04 bao tải xác rắn đều lấy tại trang trại của Đ rồi cả 05 người đi lên đồi cây của Công ty L2 thuộc khu H, xã P, cách phía sau trại gà của Đ khoảng 100m để đánh bạc, trên đường đi T đưa cho N cầm bát, đĩa sứ để N cầm đến vị trí đánh bạc.
Hình thức đánh bạc các đối tượng thống nhất, người cầm cái cho 04 quân vị vào đĩa, sau đó úp bát lên và xóc đĩa rồi đặt xuống. Mỗi người chơi đặt cược tiền vào cửa lẻ hoặc cửa chẵn. Sau khi người cầm cái mở bát, nếu 04 quân vị có 03 quân mặt xám, 01 quân mặt xanh hoặc ngược lại là cửa lẻ sẽ thắng, nếu 04 quân vị có 02 mặt xám, 02 mặt xanh hoặc 04 mặt xám hoặc 04 mặt xanh thì cửa chẵn sẽ thắng, mức cược thấp nhất 50.000đ/1 ván, cao nhất là 100.000đ/1 ván, người thắng thì được số tiền bằng số tiền đã đặt cược với người cầm cái, thua thì mất số tiền đã đặt cho người cầm cái.
Quá trình đánh bạc T là người cầm cái, tất cả 05 người trên cùng nhau đánh bạc đến 15 giờ 15 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Đ phát hiện, Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn N bỏ chạy, Công an huyện Đ bắt giữ được 03 đối tượng, gồm: Nguyễn Văn D, Nguyễn Hồng P và Cao Duy Đ. Thu giữ tại vị trí đánh bạc 5.650.000đ (năm triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng), trong đó tại vị trí Nguyễn Văn D 1.550.000₫ (một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng); Nguyễn Hồng P 2.850.000đ (hai triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng); Cao Duy Đ 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng) và 550.000đ (năm trăm năm mươi nghìn đồng) tại vị trí đánh bạc do T để lại không kịp cầm khi bỏ chạy; 01 bát sứ màu trắng; 01 đĩa sứ màu trắng; 04 quân vị cắt bằng vỏ hộp thuốc thú y, đều có đường kính 02 cm; 04 tải xác rắn, màu trắng, loại đựng thức ăn chăn nuôi và 01 chiếc kéo. Kiểm tra người các đối tượng không tạm giữ tài sản gì liên quan.
Cùng ngày, Nguyễn Văn N đến Công an huyện Đ đầu thú, giao nộp 1.000.000₫ (một triệu đồng) là tiền N sử dụng đánh bạc cầm bỏ chạy; ngày 26/02/2024, Nguyễn Văn T đến Công an huyện Đ đầu thú, giao nộp 950.000đ (chín trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền đánh bạc cầm bỏ chạy.
Tại Cơ quan điều tra, các bị can đều thừa nhận hành vi đánh bạc của mình, lời khai của các bị can phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, xác định số tiền các đối tượng mang đi và sử dụng vào việc đánh bạc như sau:
- - Nguyễn Văn D mang theo và sử dụng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng), khi bị bắt giữ đang thắng 50.000đ (năm mươi nghìn đồng).
- - Nguyễn Hồng P mang theo và sử dụng 2.900.000đ (hai triệu chín trăm nghìn đồng), khi bị bắt giữ thua 50.000đ (năm mươi nghìn đồng).
- - Cao Duy Đ mang theo và sử dụng 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng), khi bị bắt giữ thắng 100.000đ (một trăm nghìn đồng).
- - Nguyễn Văn N mang theo và sử dụng 1.100.000₫ (một triệu một trăm nghìn đồng), khi bị bắt giữ thua 100.000đ (một trăm nghìn đồng).
- - Nguyễn Văn T mang theo và sử dụng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng), không thắng không thua. Khi bỏ chạy T cầm theo 950.000đ và để lại trên chiếu số tiền 550.000đ.
Quá trình đánh bạc không ai thu tiền hồ, không ai cầm cố tài sản.
* Tại bản Cáo trạng số: 19/CT - VKSĐH ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo: Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N, Cao Duy Đ, Nguyễn Hồng P về tội "Đánh bạc" theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về điều luật áp dụng:
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo: Cao Duy Đ, Nguyễn Hồng P.
- + Áp dụng điểm a, b khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N, Cao Duy Đ, Nguyễn Hồng P phạm tội “Đánh bạc”
- Về hình phạt:
- + Xử phạt c bị cáo Nguyễn Văn D từ 24 tháng đến 30 tháng tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 21/02/2024 đến ngày 27/02/2024 là 06 ngày, quy đổi thành 18 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ còn phải chấp hành từ 23 tháng 12 ngày đến 29 tháng 12 ngày.
- + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 21 tháng đến 24 tháng tháng cải tạo không giam giữ.
- + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 18 tháng đến 21 tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 21/02/2024 đến ngày 27/02/2024 là 06 ngày, quy đổi thành 18 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ còn phải chấp hành từ 17 tháng 12 ngày đến 20 tháng 12 ngày.
Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự, Công an huyện Đ nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn N cho UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án. Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho UBND xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo. Buộc các bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
- + Xử phạt bị cáo Cao Duy Đ, Nguyễn Hồng P mỗi bị cáo từ 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng) đến 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng), để nộp ngân sách nhà nước.
- Vê hình phạt bổ sung: Bị cáo D, bị cáo T, bị cáo N đều là lao động tự do, sống chung với gia đình, không có tài sản riêng, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Bị cáo Đ, bị cáo P đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
- Về xử lý vật chứng:
- + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền: 7.600.000đ (bảy triệu sáu trăm nghìn đồng). Là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.
- + Tịch thu tiêu hủy: 04 Quân vị, hình tròn đều bằng giấy, một mặt màu xám và một mặt màu xanh, đường kính 02cm; tình trạng: đã qua sử dụng; 01 chiếc kéo bằng kim loại, kích thước chiều dài 29,5cm, tay cầm bằng nhựa màu xanh; đã qua sử dụng; 01 chiếc bát bằng sứ, màu trắng, đường kính miệng bát 11,5cm, đường kính đáy bát 5cm; đã qua sử dụng; 01 cái đĩa bằng sứ, màu trắng, đường kính 15,5cm; đã qua sử dụng; 04 chiếc bao tải màu trắng, loại đựng thức ăn chăn nuôi in chữ "Protech", kích thước 87x52cm; đã qua sử dụng. Là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng.
- Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N, Cao Duy Đ, Nguyễn Hồng P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N, Cao Duy Đ, Nguyễn Hồng P không tranh luận gì, thừa nhận và ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là phù hợp.
- [2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan Điều tra, lời khai của người liên quan, người làm chứng, thời gian, địa điểm, vật chứng cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng từ 14 giờ đến 15 giờ 15 phút ngày 21/02/2024, tại đồi cây của Công ty L2 thuộc khu H, xã P, huyện Đ, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N, Cao Duy Đ, Nguyễn Hồng P có hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi xóc đĩa được thua bằng tiền, thì bị Công an huyện Đ bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 7.600.000đ (bảy triệu sáu trăm nghìn đồng). Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Vì vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N, Cao Duy Đ, Nguyễn Hồng P về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
- [3]. Về tính chất của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo đánh bạc dưới hình thức “xóc đĩa” nhằm để thu lợi bất chính đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm minh đối với các bị cáo trong vụ án để giáo dục riêng và phòng ngừa chung tội phạm.
-
[4]. Về nhân thân:
- - Bị cáo Nguyễn Văn D: Ngày 21/9/1999 bị TAND huyện Đoan Hùng xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 30 tháng về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, đã được xóa án tích.
- - Bị cáo Nguyễn Văn N: Ngày 15/9/2022 bị TAND tỉnh Phú Thọ, xử phạt 25.000.000đ về tội Đánh bạc, đã chấp hành xong bản án vào ngày 25/11/2022, được xóa án tích.
- - Bị cáo Nguyễn Văn T: Ngày 21/01/2015 bị TAND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 15/9/2015, bị TAND huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt 1 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 21/3/2019 bị TAND huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ xử phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong tất cả các bản án và được xóa án tích.
Do vậy bị cáo D, bị cáo N, bị cáo T không thuộc trường hợp phạm tội lần đầu.
- Các bị cáo Cao Duy Đ, Nguyễn Hồng P chưa có tiền án tiền sự, đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
-
[5]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T, Cao Duy Đ, Nguyễn Hồng P đều không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
-
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- + Các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Văn D có bố đẻ là ông Nguyễn Văn D1 có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba; Bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T sau khi bỏ chạy đã đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội. Nên các bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- + Các bị cáo Cao Duy Đ, Nguyễn Hồng P đều phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Hồng P có bố đẻ là ông Nguyễn Văn T1 có công với cách mạng được Ủy ban nhân dân tỉnh P truy tặng Bằng khen kháng chiến; Bị cáo Cao Duy Đ có bố đẻ là ông Cao Đức T3 được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Nên các bị cáo đều được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, trên cơ sở phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm và tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội, nên cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung tội phạm.
- [6]. Về khấu trừ thu nhập:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật hình sự, thì trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung công quỹ Nhà nước. Kết quả xác minh của Cơ quan điều tra và lời trình bày tại phiên tòa, xét thấy các bị cáo D, N, T đều là lao động tự do, sống cùng gia đình, không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập. Cần buộc các bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- [6]. Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự, thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Kết quả xác minh và tại phiên tòa thể hiện các bị cáo D, N, T đều sống chung với gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Đối với bị cáo Đ, bị cáo P đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
-
[7] Về xử lý vật chứng:
- + Đối với số tiền 7.600.000đ (bảy triệu sáu trăm nghìn đồng). Là tiền sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp.
- + Đối với 04 Quân vị, hình tròn đều bằng giấy, một mặt màu xám và một mặt màu xanh, đường kính 02cm; tình trạng: đã qua sử dụng; 01 chiếc kéo bằng kim loại, kích thước chiều dài 29,5cm, tay cầm bằng nhựa màu xanh; đã qua sử dụng; 01 chiếc bát bằng sứ, màu trắng, đường kính miệng bát 11,5cm, đường kính đáy bát 5cm; đã qua sử dụng; 01 cái đĩa bằng sứ, màu trắng, đường kính 15,5cm; đã qua sử dụng; 04 chiếc bao tải màu trắng, loại đựng thức ăn chăn nuôi in chữ “Protech”, kích thước 87x52cm; đã qua sử dụng. Là công cụ phạm tội, nên cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.
- [8] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T, Cao Duy Đ, Nguyễn Hồng P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- [9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng đối với các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp cần chấp nhận.
- [10] Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- + Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo: Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N.
- + Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo: Cao Duy Đ, Nguyễn Hồng P.
- + Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N, Cao Duy Đ, Nguyễn Hồng P phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt:
- + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 21/02/2024, đến ngày 27/02/2024 là 06 ngày, quy đổi thành 18 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ còn lại là 23 (Hai mươi ba) tháng 12 (mười hai) ngày.
- + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 21 (Hai mươi mốt) tháng cải tạo không giam giữ.
- + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 21/02/2024, đến ngày 27/02/2024 là 06 ngày, quy đổi thành 18 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ còn lại là 17 (Mười bảy) tháng 12 (mười hai) ngày.
Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự, Công an huyện Đ nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn N cho UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án. Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho UBND xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo. Buộc các bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
- + Xử phạt bị cáo Cao Duy Đ 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng), để nộp ngân sách nhà nước.
- + Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng P 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng), để nộp ngân sách nhà nước.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
- + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 7.600.000đ (bảy triệu sáu trăm nghìn đồng).
- + Tịch thu tiêu hủy: 04 Quân vị, hình tròn đều bằng giấy, một mặt màu xám và một mặt màu xanh, đường kính 02cm, đã qua sử dụng; 01 chiếc kéo bằng kim loại, kích thước chiều dài 29,5cm, tay cầm bằng nhựa màu xanh, đã qua sử dụng; 01 chiếc bát bằng sứ, màu trắng, đường kính miệng bát 11,5cm, đường kính đáy bát 5cm, đã qua sử dụng; 01 cái đĩa bằng sứ, màu trắng, đường kính 15,5cm, đã qua sử dụng; 04 chiếc bao tải màu trắng, loại đựng thức ăn chăn nuôi in chữ “Protech”, kích thước 87x52cm, đã qua sử dụng. (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng).
4. Về án phí:
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T, Cao Duy Đ, Nguyễn Hồng P mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Khanh |
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N, Cao Duy Đ, Nguyễn Hồng P phạm tội “Đánh bạc”.
