Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN TRE

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/KDTM-ST

Ngày: 13/9/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Thanh Thúy

Ông Trần Văn Hổ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diễm Thúy

--------------------

Vào ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2024/TLKDTM-ST về việc: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST - KDTM ngày 08 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 229/2024/QĐST-KDTM ngày 26/8/2024, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V (V1)
  • Địa chỉ: H Đường L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội
  • Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – chức vụ: Chủ tịch HĐQT
  • Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1999 - Chuyên viên (có mặt)
  • Địa chỉ: I C, phường A quận C Thành phố Hồ Chí Minh
  • * Bị đơn: Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên T
  • Địa chỉ: A N, ấp A, xã M, thành phố B
  • Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Tuyết M - chức vụ: Giám đốc; (vắng mặt)
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1982 (vắng mặt)
  • Nơi cư trú: ấp T, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, cùng các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án cũng như tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V tham gia tố tụng là ông Nguyễn Thanh Đ trình bày:

Công ty TNHH Một thành viên T (Công ty T) đã vay vốn tại

V1 - Chi nhánh T1 theo Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số ETG/22111 ngày 15 tháng 11 năm 2022, hạn mức cho vay: 500.000.000 đồng, thời hạn duy trì hạn mức thấu chi: 12 tháng, cụ thể như sau:

  • Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số: ETG/22111 ngày 15/11/2022. Số tiền vay: 500.000.000 đồng. Thời hạn: 12 tháng. Lãi suất tại thời điểm giải ngân là: 20,70%/năm, điều chỉnh theo quy định từng thời kỳ. Mục đích vay: Bổ sung vốn phục vụ hoạt động bán buôn ô tô và xe có động cơ khác.

Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, V1 và các bên đã thống nhất áp dụng các biện pháp bảo đảm sau tiền vay là: Bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang bằng toàn bộ tài sản cá nhân của bà Nguyễn Thị Tuyết M theo hợp đồng bảo lãnh số: ETG/220111/HDBL ngày 15/11/2022 giữa V1 và Công ty T

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản vay của Công ty T chuyển nợ quá hạn và chịu mức lãi suất quá hạn.

Tạm tính đến hết ngày 13/9/2024, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T còn nợ V1 các khoản sau: Nợ gốc thấu chi: 500.000.000 đồng, Nợ lãi trên nợ gốc trong hạn: 231.146.985 đồng. Tổng cộng: 731.146.985 đồng (Bảy trăm ba mươi mốt triệu một trăm bốn mươi sáu ngàn chín trăm tám mươi lăm đồng)

Nay yêu cầu Tòa xem xét và phán quyết buộc:

  1. Buộc Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên T phải trả ngay một lần cho V1 tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến hết ngày 13/9/2024 là: Tổng cộng: 731.146.985 đồng (Bảy trăm ba mươi mốt triệu một trăm bốn mươi sáu ngàn chín trăm tám mươi lăm đồng)

Ngoài ra, kể từ ngày 14/9/2024, Công ty T vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn và phạt chậm trả lãi theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho V1.

  1. Trường hợp Công ty T không thanh toán theo yêu cầu nêu trên, bà Nguyễn Thị Tuyết M liên đới thanh toán toàn bộ khoản vay nêu trên theo hợp đồng bảo lãnh số: ETG/22111 ngày 15/11/2022 đã ký.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã nhiều lần mời bà Nguyễn Thị Tuyết M với vai trò là người đại diện theo pháp luật của Công ty T và với vai trò người người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, mời bà Nguyễn Thị Tuyết M với vai trò người người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến để tiến hành hòa giải nhưng bà M vắng mặt không lý do nên không thể tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng thương mại cổ phần V (Ngân hàng V1) có đơn khởi kiện yêu cầu Công ty T trả số tiền vay tính đến ngày 13/9/2024 là: 731.146.985 đồng (Bảy trăm ba mươi mốt triệu một trăm bốn mươi sáu ngàn chín trăm tám mươi lăm đồng) Trong đó N gốc thấu chi: 500.000.000 đồng, Nợ lãi trên nợ gốc trong hạn: 231.146.985 đồng. theo Hợp đồng cho vay hạn mức số ETG/22111 ngày 15/11/2022 giữa V1, bà Nguyễn Thị Tuyết M. Xét đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận nên được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Công ty T có trụ sở tại thành phố B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Đại diện theo pháp luật của Công ty T là bà Nguyễn Thị Tuyết M và bà M với vai trò là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông bà M vẫn vắng mặt không lý do, đồng thời ông cũng không có người đại diện nên không thể tiến hành phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được, Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng bà vẫn không có mặt để tham gia phiên tòa. Do đó, căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với Công ty T, bà Nguyễn Thị Tuyết M.

[3] Về nội dung vụ án: ngày 15/11/2022 Ngân hàng thương mại cổ phần V (Ngân hàng V1) có cho Công ty T vay số tiền theo hạn mức là 500.000.000 đồng, thời hạn duy trì hạn mức thấu chi: 12 tháng, cụ thể như sau:

  • Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số: ETG/22111 ngày 15/11/2022. Số tiền vay: 500.000.000 đồng. Thời hạn: 12 tháng. Lãi suất tại thời điểm giải ngân là: 20,70%/năm, điều chỉnh theo quy định từng thời kỳ. Mục đích vay: Bổ sung vốn phục vụ hoạt động bán buôn ô tô và xe có động cơ khác.

Theo Hợp đồng cho vay hạn mức ETG/22111/HDBL ngày 15/11/2022. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng vay Công ty T đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản vay của Công ty T chuyển nợ quá hạn và chịu mức lãi suất quá hạn.

Tính đến hết ngày 13/9/2024, Công ty T còn nợ V1 các khoản sau: 731.146.985 đồng (Bảy trăm ba mươi mốt triệu một trăm bốn mươi sáu ngàn chín trăm tám mươi lăm đồng) Trong đó: Nợ gốc thấu chi là: 500.000.000 đồng, Nợ lãi trên nợ gốc trong hạn là: 231.146.985 đồng.

Nay Ngân hàng yêu cầu Công ty T phải thanh toán cho Ngân hàng V1 khoản nợ trên, đồng thời yêu cầu tính lãi tiếp tục từ ngày 14/9/2024 cho đến khi Công ty T trả tất nợ cho Ngân hàng V1. Trường hợp, Công ty T không trả được nợ nêu trên thì Ngân hàng V1 yêu cầu bà Nguyễn Thị Tuyết M thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay theo hợp đồng bảo lãnh.

Tại khoản 1, Điều 2 Hợp đồng bảo lãnh số ETG/22111/HDBL ngày 15/11/2022 thể hiện: "Bằng toàn bộ tài sản, uy tín và trách nhiệm của mình, Bên bảo lãnh cam kết và đồng ý bảo lãnh vô điều kiện, không hủy ngang cho bên được bảo lãnh trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai, bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, các khoản phạt,các khoản bồi thường thiệt hại, các khoản phải hoàn trả và tất cả các nghĩa vụ tài chính khác của bên được bảo lãnh đối với bên ngân hàng phát sinh từ tất cả các văn kiện tín dụng...”. Hợp đồng bảo lãnh đã thể hiện việc bảo lãnh là vô điều kiện và không được hủy ngang. Điều này chứng tỏ bà M không những phải chịu trách nhiệm với tư cách là đại diện theo pháp luật - chủ sở hữu Công ty T mà bà M còn phải chịu trách nhiệm bảo lãnh theo Hợp đồng bảo lãnh. Vì vậy nếu Công ty T không trả thì bà M có trách nhiệm trả cho Ngân hàng khoản nợ trên. Đồng thời bà M có quyền yêu cầu Công ty T phải thanh toán phần nghĩa vụ bảo lãnh cho lại cho mình. Do đó yêu cầu của Ngân hàng V1 là phù hợp nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V được chấp nhận nên án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch Công ty T phải chịu là: 33.245.879 đồng (Ba mươi ba triệu hai trăm bốn mươi lăm ngàn tám trăm bảy mươi chín đồng)

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 351, 352; 335; 336; 338; 340; 342; 463; 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ vào các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ các Điều 30, 35, 147, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; cụ thể tuyên:

Buộc Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền tổng cộng là 731.146.985 đồng (Bảy trăm ba mươi mốt triệu một trăm bốn mươi sáu ngàn chín trăm tám mươi lăm đồng) Trong đó: Nợ gốc thấu chi là : 500.000.000 đồng, Nợ lãi trên nợ gốc trong hạn là: 231.146.985 đồng.

Công ty T còn phải tiếp tục chịu lãi suất trên số nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức số ETG/22111 ngày 15/11/2022 ký giữa Ngân hàng TMCP V và Công ty T từ ngày 14/9/2024 cho đến khi Công ty T trả tất nợ cho Ngân hàng TMCP V.

Trường hợp, Công ty T không trả được nợ nêu trên thì bà Nguyễn Thị Tuyết M phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng bảo lãnh số Hợp đồng bảo lãnh số ETG/22111 ngày 15/11/2022.

  1. Về án phí: Án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch là: 33.245.879 đồng, (Ba mươi ba triệu hai trăm bốn mươi lăm ngàn tám trăm bảy mươi chín đồng) Công ty T phải nộp. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí là 13.620.000 đồng (Mười ba triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002660 ngày 28/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Bến Tre, Bến Tre;
  • - TAND tỉnh Bến Tre, Bến Tre;
  • - Chi cục THADS TP Bến Tre, Bến Tre;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Duy Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/KDTM-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 20/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger