Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND HUYỆN SƠN ĐỘNG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/HSST

Ngày 13 - 6 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG - TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Toàn;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Ngọc Ngát;
  2. Bà Nguyễn Thị Bắc;

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Động;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên tòa: Ông Vương Văn Phong – Kiểm sát viên sơ cấp;

Trong ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/TLST - HS, ngày 07 tháng 5 năm 2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXX- HSST, ngày 24 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2024/QĐXX- HSST, ngày 04 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Hà Văn T, sinh năm 1990;
  2. Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

    Nơi sinh: Huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ĐKNKTT và thường trú tại : Thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 11/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

    Họ và tên cha: Hà Văn D; Họ và tên mẹ: Tô Thị G; H và tên vợ: Nguyễn Thị H1; Bị cáo có 03 con; Bị cáo có 02 anh chị em ruột, bản thân là con thứ hai trong gia đình.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/02/2024 đến ngày 23/02/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  3. Lã Văn S, sinh năm 1978;
  4. Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

    Nơi sinh và ĐKNKTT: Thôn Đ, xã Y, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Nơi thường trú: Thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 6/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

    Họ và tên cha: Lã Xuân Đ; Họ và tên mẹ: Trần Thị C; V là Hà Thị Á và có 02 con; Bị cáo có 04 anh chị em ruột, bản thân là con thứ nhất trong gia đình.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/02/2024 đến ngày 23/02/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  5. Tô Văn H2, sinh năm 1992;
  6. Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

    Nơi sinh: Huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Nơi ĐKNRTT và thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

    Họ và tên cha: Tô Văn S1; Họ và tên mẹ: Từ Thị T1; H và tên vợ: Hoàng Thị H3 và chưa có con; Bị cáo có 03 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/02/2024 đến ngày 23/02/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  7. Nguyễn Hữu H4, sinh năm 1977;
  8. Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

    Nơi sinh: Huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Nơi ĐKNKTT và thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

    Họ và tên cha: Nguyễn Hữu S2 (Đã chết); Họ và tên mẹ: Bùi Thị H5; H và tên vợ: Nguyễn Thị T2; Bị cáo có 03 con; Bị cáo có 04 anh chị em ruột, bản thân là con thứ ba trong gia đình.

    Tiền án, tiền sự: Không có;

    Nhân thân: Tại Bản án số 06/2014/HSST ngày 17/01/2014 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xử phạt Nguyễn Hữu H4 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng về tội Đánh bạc, bị cáo đã chấp hành xong. Tại Bản án số 55/2015/ HSST ngày 21/8/2015 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xử phạt Nguyễn Hữu H4 06 tháng tù; Tổng hợp hình phạt với bản án số 06/2014/HSST ngày 17/01/2014 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng; Buộc H4 phải chấp hành chung cho cả hai bản án 01 năm 6 tháng tù, bị cáo đã chấp hành xong.

    Ngày 01/02/2023, bị Chủ tịch UBND huyện Đ, tỉnh thái Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 2.000.000 đồng; ngày 03/02/2023 bị cáo đã chấp hành xong.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/02/2024 đến ngày 23/02/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Văn S3, sinh năm 1971; Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Khoảng hơn 06 giờ ngày 19/02/2024, Hà Văn T, Lã Văn S, Tô Văn H2Nguyễn Hữu H4 đều làm nghề lái xe thuê đến thôn M, xã D, huyện S để thu mua lợn thịt. Do chưa đến lượt mua lợn thịt nên T, SH2 cùng rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền. Khoảng 7 giờ 30 phút Từ đi mua 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá và T, S, H2 ra bãi đất trống của gia đình ông Nguyễn Văn L ở gần đó để đánh bạc bằng hình thức đánh liêng được thua bằng tiền; ban đầu mỗi ván vào gà 10.000 đồng/01 người sau đó nâng lên 20.000 đồng/01 người, tố cao nhất không quá 50.000 đồng. Từ, S, H2 đánh bạc đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày thì Nguyễn Hữu H4 đến và tham gia đánh bạc cùng; H4 thấy chia bài trên nền đất nên đi ra xe ô tô lấy 01 đệm da màu đen, may chỉ màu đỏ để mọi người chia bài lên đệm đánh bạc. Từ, S, H2H4 đánh bạc đến 8 giờ 45 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 6.000.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá và 01 đệm da màu đen. Thu giữ của các đối tượng số tiền 4.710.000 đồng và 03 điện thoại di động các loại.
  2. Việc đánh bạc bằng hình thức đánh liêng như sau: Các đối tượng sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá để đánh bạc, mỗi ván người chơi bỏ ra số tiền gà là 10.000 đồng/01 người (sau đó tăng lên 20.000 đồng/01 người), tố cao nhất không quá 50.000 đồng, mỗi người chơi sẽ được chia 3 lá bài và người chia bài là người thắng ván bài trước. Trước khi chia bài, người chơi bỏ tiền gà vào giữa và được chia cho 03 lá bài. Sau khi lên bài, người chơi bắt đầu đánh bạc bằng việc úp bài (bỏ không chơi ván đó), theo (nghĩa là theo bằng tiền người tố trước đó) hoặc tố (nghĩa là tố cáo hơn số tiền người trước đó nhưng không quá 50.000 đồng); thứ tự đánh theo ngược chiều kim đồng hồ và bắt đầu từ người chia bài. Người chơi tham gia tố đến khi không có ai theo (đã úp hết bài) thì người còn lại thắng ván đó hoặc từ 02 người chơi trở lên theo bằng tiền nhau thì mở bài để xác định thắng thua, bài ai cao nhất sẽ thắng ván đó và chia bài ván tiếp theo. Về thứ tự xác định bài từ lớn đến bé là S4, L1, Ảnh, Đ1. Trong đó: Sáp là có 03 lá bài giống nhau, sáp 222 là bé nhất, sáp AAA là lớn nhất; L1 là có 02 lá bài liên tiếp nhau, liêng A23 là bé nhất, liêng QKA là lớn nhất; Ảnh là có 03 bài người (J, Q, K); điểm là cộng 3 quân bài để tính, quân A tính là 01 điểm, từ quân 2 đến 9 tính theo thứ tự ghi trên mỗi quân bài, từ 10 đến K được tính là 0 điểm. Khi người chơi có bài giống nhau (liêng, ảnh, điểm) thì ưu tiên tính theo chất (theo thứ tự là rô, cơ, bích, tép).
  3. Các bị cáo khai nhận số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau:

    Hà Văn T khai là người mua bài để mọi người đánh bạc; Từ mang theo số tiền 4.210.000đ, sử dụng 2.000.000đ để đánh bạc. Khi Công an bắt quả tang, T không rõ thắng thua và để hết tiền xuống chiếu bạc. Từ giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11 và 2.210.000đ không sử dụng để đánh bạc.

    Lã Văn S khai mang theo số tiền 4.700.000đ, sử dụng 2.200.000đ để đánh bạc. Khi Công an bắt quả tang, S không rõ thắng thua và để hết tiền xuống chiếu bạc. S giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8T5G và 2.500.000đ không sử dụng để đánh bạc.

    Tô Văn H2 khai mang theo và sử dụng số tiền 700.000đ để đánh bạc. Khi Công an bắt quả tang, H2 thua hết tiền và giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung GalaxyA12.

    Nguyễn Hữu H4 khai mang theo và sử dụng số tiền 1.100.000đ để đánh bạc. Khi Công an đến bắt quả tang H4 đang thua, số tiền còn lại để hết xuống chiếu bạc và không bị thu giữ gì.

  4. Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Hà Văn T, Lã Văn S, Tô Văn H2Nguyễn Hữu H4 đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và đồng phạm.
  5. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động đã giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Hà Văn T, Lã Văn S, Tô Văn H2Nguyễn Hữu H4 về tội “Đánh bạc” và đề nghị:

    a) Về hình phạt:

    Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt: H 08 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt: Lã Văn S từ 07 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Xử phạt: Tô Văn H2 từ 07 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt: Nguyễn Hữu H4 từ 06 đến 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/02/2024 đến ngày 23/02/2024.

    Hình phạt bổ sung: Bị cáo Hà Văn T, Lã Văn S, Tô Văn H2Nguyễn Hữu H4 mỗi bị cáo phải nộp số tiền từ 10 đến 13 triệu đồng sung công quỹ nhà nước.

    Giao bị cáo Hà Văn T, Lã Văn S cho UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách; Giao bị cáo Tô Văn H2 cho UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

    b) Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 6.000.000đ.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá và 01 đệm da màu đen.

    Trả lại cho: Hà Văn T số tiền 2.210.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen; Lã Văn S số tiền 2.500.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno màu trắng xanh; Tô Văn H2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A12 màu đen, nhưng tạm giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án dân sự.

    c) Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố Tụng hình sự; Điều 21 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội, buộc các bị cáo Hà Văn T, Lã Văn S, Tô Văn H2Nguyễn Hữu H4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Tại phiên tòa các bị cáo Hà Văn T, Lã Văn S, Tô Văn H2Nguyễn Hữu H4 đều thừa nhận bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
  7. Phần tranh luận: Các bị cáo không có tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai tố cáo, khiếu nại gì. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định và hợp pháp.
    1. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Hà Văn T, Lã Văn S, Tô Văn H2Nguyễn Hữu H4 đều thành khẩn khai báo. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng đã được thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 08 giờ 45 phút ngày 19/02/2024, tại bãi đất trống của gia đình ông Nguyễn Văn L tại thôn M, xã D, huyện S; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S phối hợp với Công an xã D bắt quả tang Hà Văn T, Lã Văn S, Tô Văn H2Nguyễn Hữu H4 đang có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh liêng được thua bằng tiền. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 6.000.000đ, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá và 01 đệm da màu đen. Thu giữ của các đối tượng số tiền 4.710.000đ và 03 điện thoại di động các loại. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc trái phép là 6.000.000đ.

      Như vậy, bản Cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 07/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố các bị cáo Hà Văn T, Lã Văn S, Tô Văn H2Nguyễn Hữu H4 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị về điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và án phí đối với các bị cáo là phù hợp theo quy định của pháp luật.

      Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Các bị cáo tham gia đánh bạc bằng hình thức sát phạt nhau với lỗi cố ý nhằm thu lợi bất chính, xâm phạm vào trật tự an toàn công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội và dễ gây ra các tệ nạn xã hội khác. Do đó, việc truy tố và đưa các bị cáo ra xét xử trước pháp luật là rất cần thiết để răn đe các bị cáo nói riêng và ngăn ngừa chung.

  2. Về vai trò của các bị cáo trong vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

    Các bị cáo Hà Văn T, Lã Văn S, Tô Văn H2Nguyễn Hữu H4 tham gia đánh bạc do bộc phát, không có sự bàn bạc thống nhất nên phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn.

    Bị cáo Hà Văn T là người khởi xướng, có số tiền nhiều, chuẩn bị công cụ và chơi từ đầu nên phải chịu vai trò chính trong vụ án; Lã Văn S là người khởi xướng, có số tiền nhiều và chơi từ đầu nên chịu vai trò sau Từ; Tô Văn H2 là người cùng khởi xướng, chơi từ đầu và có số tiền ít hơn nên phải chịu vai trò sau T, S; Nguyễn Hữu H4 là người lấy bạt, đến chơi sau cùng và có số tiền ít hơn nên chịu vai trò thứ yếu trong vụ án.

    Các bị cáo Hà Văn T, Lã Văn S, Tô Văn H2Nguyễn Hữu H4 phạm tội đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

    Bị cáo Hà Văn T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Lã Văn S, Tô Văn H2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo H2 được tặng Giấy khen trong khóa huấn luyện chiến sĩ mới; bị cáo S có bố đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Bị cáo Nguyễn Hữu H4 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có bố đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy:

    Đối với các bị cáo Hà Văn T, Lã Văn STô Văn H2 đều có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Các bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Điều 65 của Bộ luật Hình sự là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Đối với bị cáo Nguyễn Hữu H4 có nhân thân xấu: Tại Bản án số 06/2014/HSST ngày 17/01/2014 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xử phạt Nguyễn Hữu H4 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng về tội Đánh bạc, bị cáo đã chấp hành xong. Tại Bản án số 55/2015/ HSST ngày 21/8/2015 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xử phạt Nguyễn Hữu H4 06 tháng tù; Tổng hợp hình phạt với bản án số 06/2014/HSST ngày 17/01/2014 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng; Buộc H4 phải chấp hành chung cho cả hai bản án 01 năm 6 tháng tù, bị cáo đã chấp hành xong.

    Ngày 01/02/2023, bị Chủ tịch UBND huyện Đ, tỉnh thái Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 2.000.000 đồng; ngày 03/02/2023 bị cáo đã chấp hành xong. Bị cáo trong thời gian ngắn đã liên tục phạm tội, bị cáo thể hiện là người coi thường kỷ cương pháp luật và khó giáo dục; do đó, cần phải áp dụng biện pháp cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đảm bảo tính giáo dục răn đe bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

    Các bị cáo phạm tội đồng phạm giản đơn, số tiền ít, căn cứ vào vai trò và số tiền của từng bị cáo dùng vào việc đánh bạc; Hội đồng xét xử cho bị cáo Hà Văn T, Lã Văn STô Văn H2 ở mức đầu của khung hình phạt; Bị cáo Nguyễn Hữu H4 ở mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp.

  3. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ. Các bị cáo phạm tội với động cơ, mục đích hưởng lợi bất chính; do vậy, cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo Hà Văn T, Lã Văn S, Tô Văn H2Nguyễn Hữu H4, mỗi bị cáo phải nộp số tiền 10.000.000đ sung công quỹ nhà nước.
  4. Về xử lý vật chứng:

    Đối với số tiền 6.000.000đ thu giữ tại chiếu bạc, các bị cáo dùng vào việc đánh bạc trái phép cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

    Đối với 01 đệm da màu đen, may chỉ màu đỏ là tài sản của ông Bùi Văn S3, ông S3 không biết việc H4 sử dụng để đánh bạc và không có yêu cầu nhận lại; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá; các vật chứng nêu trên các bị cáo đã dùng vào việc đánh bạc xét không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

    Đối với số tiền thu giữ của Hà Văn T 2.210.000đ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen; Lã Văn S số tiền 2.500.000đ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno màu trắng xanh; Tô Văn H2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A12 màu đen; các bị cáo không dùng vào việc đánh bạc nên cần trả lại cho các bị cáo, nhưng tạm giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án.

    Các vật chứng được niêm phong theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/5/2024 giữa Cơ quan Công an huyện S với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động.

  5. Đối với ông Nguyễn Văn L, khi các bị cáo đánh bạc tại bãi đất trống của gia đình ông L nhưng ông L không biết nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
  6. Về án phí: Các bị cáo Hà Văn T, Lã Văn S, Tô Văn H2Nguyễn Hữu H4 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt: H (Chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/6/2024.

  2. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt: L (T3) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/6/2024.

    Xử phạt: Tô Văn H2 07 (B) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/6/2024.

  3. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt: Nguyễn Hữu H4 06 (S5) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, bị cáo được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 19/02/2024 đến ngày 23/02/2024.

    Giao bị cáo Hà Văn T, Lã Văn S cho UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách; Giao bị cáo Tô Văn H2 cho UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

  4. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Hà Văn T, Lã Văn S, Tô Văn H2Nguyễn Hữu H4 mỗi bị cáo phải nộp số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung công quỹ nhà nước.
  5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 6.000.000đ.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá và 01 đệm da xướng đen.

    Trả lại cho: Hà Văn T số tiền 2.210.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen; Lã Văn S số tiền 2.500.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno màu trắng xanh; Tô Văn H2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A12 màu đen, nhưng tạm giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án dân sự.

    Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/5/2024 giữa Cơ quan Công an huyện S với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động.

  6. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố Tụng hình sự; Các bị cáo Hà Văn T, Lã Văn S, Tô Văn H2Nguyễn Hữu H4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Sơn Động;
  • - CQCSĐT Công an huyện Sơn Động;
  • - Chi cục THADS huyện SÐ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo và những người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã Đông Hải và xã Đông Ngũ, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh; UBND xã Đông La, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HSST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG - TỈNH BẮC GIANG về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 20/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG - TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng hơn 06 giờ ngày 19/02/2024, Hà Văn T, Lã Văn S, Tô Văn H2 và Nguyễn Hữu H4 đều làm nghề lái xe thuê đến thôn M, xã D, huyện S để thu mua lợn thịt. Do chưa đến lượt mua lợn thịt nên T, S và H2 cùng rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền. Khoảng 7 giờ 30 phút Từ đi mua 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá và T, S, H2 ra bãi đất trống của gia đình ông Nguyễn Văn L ở gần đó để đánh bạc bằng hình thức đánh liêng được thua bằng tiền; ban đầu mỗi ván vào gà 10.000 đồng/01 người sau đó nâng lên 20.000 đồng/01 người, tố cao nhất không quá 50.000 đồng. Từ, S, H2 đánh bạc đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày thì Nguyễn Hữu H4 đến và tham gia đánh bạc cùng; H4 thấy chia bài trên nền đất nên đi ra xe ô tô lấy 01 đệm da màu đen, may chỉ màu đỏ để mọi người chia bài lên đệm đánh bạc. Từ, S, H2 và H4 đánh bạc đến 8 giờ 45 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 6.000.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá và 01 đệm da màu đen. Thu giữ của các đối tượng số tiền 4.710.000 đồng và 03 điện thoại di động các loại.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger