|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2024/HS-ST
Ngày 12-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Hà Giang |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Mạnh Tiến |
| Ông Nguyễn Văn Tú |
- Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thị Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2024/TLST- HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 06/2024/HSST-QĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Thanh T, sinh ngày: 27/9/1990; tại tỉnh Lâm Đồng; Nơi cư trú: Thôn F, xã Đ, huyện Đ, Lâm Đồng, chỗ ở: không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Con ông Đỗ Văn M, sinh năm 1960 và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962; Vợ: Nguyễn Thị Hồng S – sinh năm 1998 (đã ly hôn); có 01 con, sinh năm 2016.
Tiền án, Tiền sự: Chưa có.
Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Đỗ Thanh T đã bỏ trốn khỏi địa phương và bị bắt theo Quyết định truy nã của Cơ quan điều tra. Đỗ Thanh T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 14/5/2024, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 17/5/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
- Ông Nguyễn Ngọc Xuân A, sinh năm 1994; nơi cư trú: Tổ dân phố I, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Ông Lê Văn Â, sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Ông Lư Văn T1, sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt lần thứ hai không có lý do).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị S1, sinh năm 1975; nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Ông Đỗ Văn S2, sinh năm 1968; nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt lần thứ hai không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lợi dụng sơ hở của người dân trong việc quản lý tài sản, khoảng 14 giờ 00 ngày 05/9/2023, Đỗ Thanh T lấy trộm 01 xe mô tô BS: 54T3-8486 của anh Nguyễn Ngọc Xuân A tại xưởng sầu riêng H1 thuộc Tổ dân phố I, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Tiếp đó, khoảng 09h sáng ngày 13/9/2023, Đỗ Thanh T phát hiện có 02 chiếc xe mô tô màu nâu, không gắn biển số để ở khu vực bờ hồ hồ Đ thuộc Tổ dân phố B, thị trấn M, không có ai trông coi nên T đã bí mật, lén lút lấy trộm 01 chiếc xe mô tô rồi chạy xuống khu vực xã P, T, Đồng Nai và bán cho vựa thu mua ve chai của ông Đỗ Văn S2, trú tại: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai với giá 470.000 đồng. Sau khi bán xe xong thì T đón xe khách về lại khu vực Tổ dân phố B, thị trấn M rồi tiếp tục đi bộ vào hướng hồ ĐT thấy chiếc xe mô tô còn lại vẫn để ở đó nên tiếp tục lấy trộm chiếc xe này rồi điều khiển xe chạy đến vựa thu mua ve chai của bà Phạm Thị S1, trú tại ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai bán với giá 550.000 đồng. Tại Công an thị trấn M, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi bí mật, lén lút trộm cắp 01 xe mô tô không gắn biển kiểm soát, màu nâu, số khung: 05000864, số máy: FMG01571864 của anh Lê Văn  và 01 xe mô tô không gắn biển kiểm soát, màu nâu, số máy: VTT36JL1P52FMH-032056 của anh Lư Văn T1. Số tiền do bán được hai chiếc xe trên bị cáo T đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Theo Kết luận định giá tài sản số 15 ngày 19/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ, nội dung kết luận: “Xe hai bánh nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 54T3-8486 là tang vật trong vụ Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 05/9/2023 tại Tổ dân phố I, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng có giá trị định giá là 2.880.000 đồng”.
Theo Kết luận định giá tài sản số 16 ngày 24/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: “Xe hai bánh nhãn hiệu Spring, BKS: 49S8-2020, số máy theo hiện trạng là VTT36JL1P52FMH-032056 có giá trị định giá là 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi ngàn đồng) và xe hai bánh nhãn hiệu Loncin, BKS: 49V3-0860, số khung: 05000864, số máy: FMG01571864 có giá trị định giá là 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm ngàn đồng). Tổng giá trị định giá là 1.950.000 đồng (một triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng)”.
Về vật chứng của vụ án, Cơ quan điều tra đã thu:
- 01 xe mô tô biển số: 54T3 - 8486, nhãn hiệu Yamaha, số máy: 16S1-043253; số khung: Y-043247. Tình trạng: xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong.
- 01 xe mô tô không gắn biển kiểm soát, màu nâu, số khung: 05000864, số máy: FMG01571864. Tình trạng xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc.
- 01 xe mô tô không gắn biển kiểm soát, màu nâu, số máy: VTT36JL1P52FMH-032056. Tình trạng xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc. (BL: 79-82)
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả lại cho các chủ sở hữu theo quy định pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, người bị hại là anh Nguyễn Ngọc Xuân A, anh Lê Văn Â, anh Lư Văn T1 đã nhận lại tài sản của mình và không yêu cầu Đỗ Thanh T bồi thường gì. Ông Đỗ Văn S2, bà Phạm Thị S1 không yêu cầu Đỗ Thanh T bồi thường gì.
Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKS-ĐH ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Đỗ Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự).
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận để có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như nội dung cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng và xin giảm nhẹ hình phạt.
Sau phần luận tội, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đỗ Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Thanh T từ 09 đến 12 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong trong quá trình điều tra vụ án nên tại phiên tòa không đề nghị gì thêm.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Đã giải quyết xong, tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới nên không đề nghị giải quyết.
Vấn đề khác: Đối với số tiền 1.020.000 đồng mà Đỗ Thanh T thu lợi do bán 02 xe mô tô cho bà Phạm Thị S1 và ông Đỗ Văn S2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó xác định các Cơ quan tiến hành tố tụng; các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng đều vắng mặt. Quá trình điều tra, truy tố bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã có lời khai đầy đủ, không có yêu cầu gì thêm nên căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- [3] Về hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Thanh T: Lợi dụng sơ hở của người dân trong việc quản lý tài sản, vào sáng ngày 05/9/2023, Đỗ Thanh T lấy trộm 01 xe mô tô BS: 54T3-8486 của anh Nguyễn Ngọc Xuân A tại xưởng sầu riêng H1 thuộc Tổ dân phố I, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng trị giá 2.880.0000 đồng. Tiếp đó, ngày 13/9/2023, Đỗ Thanh T lấy trộm 01 xe mô tô không gắn biển kiểm soát, màu nâu, số khung: 05000864, số máy: FMG01571864 của anh Lê Văn  trị giá 1.200.000 đồng và 01 xe mô tô không gắn biển kiểm soát, màu nâu, số máy: VTT36JL1P52FMH-032056 của anh Lư Văn T1 trị giá 750.000 đồng tại hồ Đ thuộc Tổ dân phố B, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Tổng giá trị tài sản mà Đỗ Thanh T đã chiếm đoạt 03 xe mô tô nói trên là 4.830.000 đồng (Bốn triệu tám trăm ba mươi nghìn đồng). Theo Kết luận định giá tài sản số 15 ngày 19/9/2023 và số 16 ngày 24/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ.
- Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Đỗ Thanh Trọng p vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như cáo trạng số 19/CT-VKS-ĐH ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- [3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định và có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền tiêu xài không bằng chính sức lao động của mình, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội nhằm thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm trái pháp luật đến tài sản của người khác; gây mất trật tự trị an tại địa phương, mà còn thể hiện bị cáo không tôn trọng kỷ cương, xem thường luật pháp nên cần thiết phải xử phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cách ly ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- [4] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, cũng như trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội; tài sản chiếm đoạt đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, nên cũng cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự khi lượng hình cho bị cáo là phù hợp.
- [5] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Đối với hành vi mua xe máy của ông Đỗ Văn S2 và bà Phạm Thị S1, qua điều tra xác định thời điểm mua xe máy không biết là tài sản do Đỗ Thanh T trộm cắp mà có nên không xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
- [6] Bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- [7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, người bị hại là anh Nguyễn Ngọc Xuân A, anh Lê Văn Â, anh Lư Văn T1 đã nhận lại tài sản của mình và không yêu cầu Đỗ Thanh T bồi thường gì. Ông Đỗ Văn S2, bà Phạm Thị S1 không yêu cầu Đỗ Thanh T bồi thường gì. Vì vậy HĐXX không đặt ra xem xét là phù hợp.
- [8] Về xử lý vật chứng của vụ án gồm: 01 xe mô tô biển số: 54T3 - 8486, nhãn hiệu Yamaha, số máy: 16S1-043253; số khung: Y-043247. Tình trạng: xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong; 01 xe mô tô không gắn biển kiểm soát, màu nâu, số khung: 05000864, số máy: FMG01571864. Tình trạng xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc; 01 xe mô tô không gắn biển kiểm soát, màu nâu, số máy: VTT36JL1P52FMH-032056. Tình trạng xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả lại cho các chủ sở hữu theo quy định pháp luật là hợp pháp nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét là phù hợp.
- [9] Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 1.020.000 đồng mà Đỗ Thanh T thu lợi do bán 02 xe mô tô cho bà Phạm Thị S1 và ông Đỗ Văn S2, bà S1 và ông S2 không buộc bị cáo phải bồi thường lại số tiền này, vì vậy đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có do đó cần buộc bị cáo nộp lại số tiền 1.020.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước là phù hợp khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
- [10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Đỗ Thanh Trọng phạm t “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2024 (ngày bị cáo bị tạm giữ).
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự, buộc bị cáo Đỗ Thanh T nộp lại số tiền 1.020.000 đồng (một triệu không trăm hai mươi ngàn đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đỗ Thanh T phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo yêu cầu tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hà Giang |
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thanh T - Trộm cắp tài sản
