TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 20/2024/HSST
Ngày 12-4-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Thanh Tùng
Thẩm phán: Ông Trần Tuấn Vũ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Vĩnh Thế
2. Bà Lê Thị Kim Oanh
3. Bà Nguyễn Kim Hậu
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mến– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Thanh P; sinh ngày 13 tháng 11 năm 1981, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: mua phế liệu; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Đặng Thị Kim H (chết); vợ Lê Thị Hồng V và 02 người con lớn sinh năm 2000 nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 04 -8-2023, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo ông Nguyễn Hữu L – Luật sư của Công ty L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Bị hại: anh Trần Văn P1 (H1), sinh năm 2002; nơi cư trú: ấp L, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Chị Lê Thị Ánh T1, sinh năm 2001; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh (vợ anh P1); có mặt.
2. Bà Trần Thị H2, sinh năm 1961; ấp L, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (mẹ ruột anh P1); vắng mặt.
Người đại diện cho chị T1, bà H2 là anh Trần Văn D, sinh năm 1987; nơi cư trú: 41 A, ấp L, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, theo văn bản ủy quyền 23-8-2023 ; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/8/2023, Phạm Thanh P đang ngồi ăn cơm với vợ là Lê Thị Hồng V cùng anh, chị vợ là Lê Thị Kim L1, Lê Thanh T2 và Lê Hoàng D1 (chồng L1) tại nhà trọ “Duyên” thuộc khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Lúc này, Trần Văn P1 (tên thường gọi là H1) và Trịnh Gia B, cùng ngụ xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh đến gặp Lê Hoàng D1 đòi tiền mà D1 nợ P1 trước đó, thì giữa D1 và P1 xảy ra cự cãi, xô xát nhau, thấy vậy P vào bênh vực D1 và xô xát với P1, P1 lấy cây vũ ba khúc giấu trên người ra đánh trúng đầu P 01 cái, P chạy vào phòng trọ đến khu vực nấu ăn lấy 01 con dao bằng kim loại dài 25,5 cm, cán nhựa màu đen quay ra thấy P1 đang giằng co giật lấy gậy ba khúc với chị L1, nên P chạy đến đứng đối diện, đâm trúng P1 02 nhát trúng vào xương ức và nách trái, chảy nhiều máu. P1 và B bỏ chạy thoát ra ngoài, P1 kêu B đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ, đến 19 giờ 30 phút ngày 04/8/2023 thì tử vong.
* Kết luận giám định tử thi số 1234/KLGĐTT-KTHS ngày 29/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận nguyên nhân chết của Trần Văn P1: mất máu cấp do vết thương vùng hố nách trái làm đứt động mạch ngực ngoài, chiều hướng từ phải qua trái, từ dưới lên trên do vật sắc nhọn gây ra.
* Kết luận giám định số 1360/KL-KTHS ngày 08/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: nhóm máu của Phạm Thanh P và Trần Văn P1 là nhóm máu A. Các dấu vết màu nâu đỏ thu tại vị trí số 01, 02 tại hiện trường là máu, thuộc máu người, nhóm máu A. Trên 06 con dao, gậy 03 khúc, quần, áo thun ngắn màu xanh, quần lửng máu đen không có dính máu; Trên áo khoác Jean dài tay, màu xanh có dính máu, thuộc máu người, nhóm máu A.
* Về bồi thường thiệt hại: đại diện gia đình người bị hại yêu cầu bồi thường chi phí điều trị, mai táng là 190.000.000 đồng và cấp dưỡng nuôi con của bị hại đến 18 tuổi. Gia đình bị cáo đã bồi thường 30.000.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số: 11/CT-VKS-P2 ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Phạm Thanh P về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: giữ nguyên bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Thanh P phạm tội “Giết người”. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thanh P từ 16-18 năm tù.
Biện pháp tư pháp: về trách nhiệm dân sự đề nghị buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp bị hại và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: tội danh thống nhất với Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Tuy nhiên, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 16-18 năm tù là nặng; chưa xem xét đến tính chất mức độ của hành vi phạm tội, trong khi đó bị hại có phần lỗi; gia đình bị cáo đã bồi thường được một phần để khắc phục hậu quả; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Đề nghị áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Không đồng ý yêu cầu của đại diện bị hại.
Người đại diện hợp pháp cho bị hại trình bày: bị cáo đâm bị hai hai nhát là cố ý giết người; yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại theo quy định và buộc bị cáo cấp dưỡng nuôi con bị hại cho đến 18 tuổi; mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là quá nhẹ.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 190.000.000 đồng (tiền chi phí điều trị trước khi bị hại chết 48.000.000 đồng; tiền mua hòm, đám tang 89.000.000 đồng; xây mộ 53.000.000 đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Phạm Thanh P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, vật chứng của vụ án và người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định: khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/8/2023, Phạm Thanh P ngồi ăn cơm với vợ là Lê Thị Hồng V và anh, chị vợ là Lê Thị Kim L1, Lê Thanh T2 và Lê Hoàng D1 (chồng L1) tại nhà trọ “Duyên” thuộc khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Lúc này, Trần Văn P1 (tên thường gọi là H1) và Trịnh Gia B đến gặp anh D1 đòi tiền, thì giữa D1 và P1 xảy ra xô xát nhau. Lúc này, P vào bênh vực D1 thì bị P1 dùng cây vũ ba khúc đánh trúng đầu P 01 cái, P chạy vào phòng trọ lấy 01 con dao bằng kim loại (dài 25,5 cm, cán nhựa màu đen) quay ra thấy P1 đang giằng co với chị L1, P chạy đến dùng dao đâm P1 02 nhát trúng vào xương ức và nách trái; P1 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ đến 19 giờ 30 phút ngày 04/8/2023 thì tử vong. Kết luận giám định nguyên nhân bị hại chết, mất máu cấp do vết thương vùng hố nách trái làm đứt động mạch ngực ngoài, chiều hướng từ phải qua trái, từ dưới lên trên do vật sắc nhọn gây ra.
Như vậy, giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì trước đó. Vì bên vực anh D1, bị cáo dùng dao là hung khí rất nguy hiểm đâm anh P1 nhiều nhát vào vùng hố nách trái làm đứt động mạch dẫn đến tử vong. Hành vi nêu trên của bị cáo
đã phạm tội “Giết người”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ.
[3] Vụ án mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội; trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ; gây đau thương cho gia đình nạn nhân; làm mất trật tự trị an tại địa phương; cần xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa.
[4] Khi quyết định hình phạt có xem xét:
[4.1] Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tặng nặng theo quy định của Bộ luật Hình sự.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường một phần cho đại diện bị hại số tiền 30.000.000 đồng; đây là những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo tham gia dân quân tự vệ bảo vệ địa phương một thời gian; đang thờ cúng Liệt sỹ; gia đình có công cách mạng; bị hại có phần lỗi. Đây là những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tiền chi phí điều trị cho bị hại trước khi chết 48.000.000 đồng; tiền mua hòm, đám tang 89.000.000 đồng, xây mộ 53.000.000 đồng; tổng cộng 190.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho đại diện bị hại. xét thấy phù hợp nên chấp nhận.
Tiền cấp dưỡng nuôi con, tiền tổn thất tinh thần đại diện bị hại yêu cầu bồi thường là có căn cứ. Tuy nhiên, số tiền yêu cầu bồi thường quá cao. Bị hại có một phần lỗi. Do đó, chấp nhận một phần yêu cầu của người đại diện cho bị hại.
[6] Vật chứng: 01 gậy ba khúc bằng kim loại dài 64 cm, cán bọc nhựa màu đen dài 24 cm (đã qua sử dụng); 02 chiếc dép nhựa màu xám trắng, quai ngang, trên dép có chữ adidas (đã qua sử dụng); 02 chiếc dép nhựa màu xám, quai ngang, trên dép có chữ Justdoie (đã qua sử dụng); 01 dao dài 25,5 cm, cán nhựa, phần lưỡi dài 15,5 cm, rộng 3,8 cm, mũi nhọn (đã qua sử dụng); 02 dao dài 22,5 cm, cán gỗ, phần lưỡi dài 11,5 cm, rộng 02 cm, mũi nhọn (đã qua sử dụng); 01 dao dài 24,5 cm, cán gỗ, phần lưỡi dài 13 cm, rộng 3,5 cm, mũi vuông (đã qua sử dụng); 01 dao dài 31 cm, cán nhựa, phần lưỡi dài 19 cm, rộng 0,4 cm, mũi nhọn (đã qua sử dụng); 01 dao dài 30 cm, cán nhựa, phần lưỡi dài 17 cm, rộng 09 cm, mũi vuông (đã qua sử dụng); 01 áo khoát Jean dài tay, màu xanh (đã qua sử dụng); 01 quần thun ngắn, màu xanh, viền trắng có in số 10 (đã qua sử dụng); 01 áo thu ngắn tay, màu xanh, có lo gô adidas (đã qua sử dụng); 01 quần lững màu đen, có sọc trắng – đỏ - đen (đã qua sử dụng). Là công cụ dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị Phạm Thanh P phạm tội “ Giết người”.
2. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Thanh P 17 (mười bảy) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04-8-2023.
3. Các biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 591 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
3.1. Buộc bị cáo Phạm Thanh P phải có nghĩa vụ bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 290.000.000 đồng (tiền chi phí điều trị cho bị hại trước khi chết 48.000.000 đồng; tiền mua hòm, đám tang 89.000.000 đồng, xây mộ 53.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 100.000.000 đồng). Ghi nhận gia đình bị cáo Phạm Thanh P đã bồi thường số tiền 30.000.000 đồng. Bị cáo Phạm Thanh P còn phải bồi thường tiếp số tiền 260.000.000 (Hai trăm sáu mươi triệu) đồng.
3.2. Buộc bị cáo Phạm Thanh P phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trần Thùy T3 hằng tháng, mỗi tháng số tiền 1.800.000 (một triệu tám trăm ngàn) đồng cho đến khi cháu T3 đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3.3. Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao dài 31 cm (lưỡi bằng kim loại dài 20 cm, cán bằng gỗ dài 11 cm); 01 quần đùi thun màu xanh sọc đỏ; 01 áo thun ngắn tay màu xanh trên áo có nhiều lỗ thủng; 01 quần Jean dài, màu xanh; 01 áo lót nữ màu đỏ nhạt, bị thủng lỗ; 01 áo sơ mi ngắn tay sọc ka rô màu xanh bị cắt thành nhiều đường cắt; 01 quân tây dài màu đen bị cắt nhiều đường dài từ trên lưng quần xuống ống quần; 01 quần thun ngắn màu xanh, hai bên quần sọc chỉ đỏ cắt thành nhiều mảnh. (tất cả đã qua sử dụng) (Kèm theo biên bản giao nhận giữa Cơ quan điều tra và Cục thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh ngày 08-11-2023).
4. Về án phí: bị cáo Phạm Thanh P phải chịu 200.000 (hai trăm ngìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm; miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN Phan Thanh Tùng |
Bản án số 20/2024/HSST ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tội giết người
- Số bản án: 20/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tội Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thanh Phương có hành vi giết người
