|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2024/DS-ST
Ngày: 11-6-2024
V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Quỳnh Như.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Nga và bà Mai Thị Tuyết Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Hoà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Phạm Thanh Long – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2024/TLST – DS ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2024/QÐST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2024 giữa:
-Nguyên đơn: Ngân hàng N. Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, Tp . Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Phạm Toàn V. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đỗ Thành T – Giám đốc Ngân hàng N chi nhánh C . Đại diện theo uỷ quyền của ông T: Ông Đặng Hải L (có mặt).
-Bị đơn: Bà Trần Thị Kim T1, sinh năm 1962. Địa chỉ: 5 khu phố P, thị trấn C, huyện C, TP Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Lệ K, sinh năm 1955. Ông Huỳnh Duy P, sinh năm 1983. Ông Huỳnh Quốc B, sinh năm 1987. Cùng địa chỉ: Số I khu phố E, thị trấn N, huyện N, TP Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai của của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 17/08/2011 Ngân hàng N - Chi nhánh C và bà Trần Thị Kim T1 ký Hợp đồng tín dụng số 6180-LAV-201102250, số tiền vay: 2.400.000.000 đồng (Hai tỷ bốn trăm triệu đồng), số tiền thực tế nhận nợ: 2.400.000.000 đồng. Phương thức cho vay: từng lần, lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng: 20%/năm. Thời hạn cho vay: 12 tháng, ngày trả nợ cuối cùng: 15/08/2012.
Ngày 19/8/2011 Bà Trần Thị Kim T1 nhận nợ vay : 1.800.000.000 đồng
Ngày 28/9/2011 Bà Trần Thị Kim T1 nhận nợ vay : 600.000.000 đồng
Ngày 07/3/2012 Bà Trần Thị Kim T1 trả nợ số tiền: 920.000.000 đồng, trong đó trả nợ gốc : 687.333.333 đồng, trả lãi: 232.666.667 đồng.
Ngày 09/5/2012 Bà Trần Thị Kim T1 trả nợ số tiền: 25.690.000 đồng, trong đó trả nợ gốc : 0 đồng, trả lãi: 25.690.000 đồng.
Ngày 11/6/2012 Ngân hàng N - Chi nhánh C điều chỉnh lãi suất cho vay trong hạn từ 20%/năm xuống 15,5%/năm (áp dụng từ ngày 11/6/2012). Ngày 16/7/2012 Ngân hàng N - Chi nhánh C điều chỉnh lãi suất cho vay trong hạn từ 15,5%/năm xuống 15%/năm (áp dụng từ ngày 16/7/2012)
Ngày 02/8/2012 Bà Trần Thị Kim T1 gửi đơn đề nghị gia hạn nợ gốc và lãi đến ngày 15/8/2013 và đã được Ngân hàng N - Chi nhánh C chấp thuận cho gia hạn.
Ngày 24/9/2012 Ngân hàng N - Chi nhánh C điều chỉnh lãi suất cho vay trong hạn từ 15%/năm xuống 14%/năm ( Áp dụng từ ngày 24/9/2012). Ngày 13/5/2013 Ngân hàng N - Chi nhánh C tiếp tục điều chỉnh lãi suất cho vay trong hạn từ 14%/năm xuống 13%( Áp dụng từ ngày 13/5/2013).
Ngày 15/8/2013 đến hạn trả nợ lãi và nợ gốc của khoản vay, tuy nhiên bà Trần Thị Kim T1 đã không thực hiện đúng cam kết theo hợp đồng tín dụng, món vay đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 16/8/2013.
Ngày 30/8/2017 Ngân hàng N - Chi nhánh C và Bà Trần Thị Kim T1 ký phụ lục hợp đồng tín dụng số 6180-LAV-201102250/PLHD điều chỉnh lãi suất cho vay như sau:
- Lãi suất tiền vay 9,9%/năm, áp dụng từ ngày 04/8/2015 đến 30/9/2015
- Lãi suất tiền vay 9,6%/năm, áp dụng từ ngày 01/10/2015 đến 31/12/2016
- Lãi suất tiền vay 9,8%/năm, áp dụng từ ngày 01/01/2017 đến 31/3/2017
- Lãi suất tiền vay 9,7%/năm, áp dụng từ ngày 01/4/2017 đến 30/9/2017
Lãi suất quá hạn bằng 100%/lãi suất cho vay trong hạn, áp dụng từ ngày 16/8/2013.
Ngày 30/01/2018 Bà Trần Thị Kim T1 trả nợ số tiền: 1.118.629.121 đồng, tronng đó trả nợ gốc: 800.000.000 đồng, trả lãi: 318.629.121 đồng.
Tài sản đảm bảo nợ vay của bà Trần Thị Kim T1 gồm:
- Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 226; Tờ bản đồ số 11; Loại đất: Đất ở nông thôn, Diện tích đất: 1.460 m²; Địa chỉ: xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AC 938902, số vào sổ cấp GCN: H 02253 cấp ngày 14/11/2005 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ bà Trương Lệ K. Việc thế chấp đã được xác lập bằng hợp đồng thế chấp số 000620/TC do Văn Phòng C1 chứng thực ngày 17/8/2011, Số chứng thực: 000620, Quyển số : 01 TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 19/8/2011.
- Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 515; Tờ bản đồ số 11; Loại đất: Đất ở nông thôn, Diện tích đất: 1.210 m²; Địa chỉ: xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AC 938901, số vào sổ cấp GCN: H 02254 cấp ngày 14/11/2005 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ bà Trương Lệ K. Việc thế chấp đã được xác lập bằng hợp đồng thế chấp số 000620/TC do Văn Phòng C1 chứng thực ngày 17/8/2011, Số chứng thực: 000620, Quyển số : 01 TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 19/8/2011.
- Quyền sử dụng đất: Loại đất: đất ở, Diện tích đất: 438 m²; Địa chỉ: TT C, huyện C, TP ., do UBND huyện C cấp cho bà Trần Thị Kim T1 theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số phát hành AB 793675, số vào sổ cấp GCN: H 00173 ngày 09/03/2005. Việc thế chấp đã được xác lập bằng hợp đồng thế chấp số 000628/TC do Văn phòng C1 chứng nhận ngày 17/08/2011, Số công chứng: 000628, Quyển số : 01 TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 19/8/2011.
Ngày 30/01/2018 bà Trần Thị Kim T1 trả nợ số tiền: 1.118.629.121 đồng, trong đó trả nợ gốc : 800.000.000 đồng, trả lãi: 318.629.121 đồng. nên A Chi nhánh C đã giải chấp tài sản là : Quyền sử dụng đất: Loại đất: đất ở, Diện tích đất: 438 m²; Địa chỉ: TT C, huyện C, TP ., do UBND huyện C cấp cho bà Trần Thị Kim T1 theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số phát hành AB 793675, số vào sổ cấp GCN: H 00173 ngày 09/03/2005. Việc thế chấp đã được xác lập bằng hợp đồng thế chấp số 000628/TC do Văn phòng C1 chứng nhận ngày 17/08/2011, Số công chứng: 000628, Quyển số : 01 TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 19/8/2011.
Nay Ngân hàng N kính đề nghị Toà án nhân dân Huyện Cần Giờ Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết những vấn đề sau đây:
- Buộc Bà Trần Thị Kim T1 phải số tiền tạm tính đến hết ngày 25/04/2024 là 2.212.288.317 đồng (Hai tỷ, hai trăm mười hai triệu hai trăm tám mươi tám ngàn ba trăm mười bảy đồng), trong đó: Nợ gốc: 912.666.667 đồng. Nợ lãi: 1.208.621.650 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 26/04/2024 cho Ngân hàng N - Chi nhánh C.
Trường hợp Bà Trần Thị Kim T1 không có khả năng trả, kính đề nghị Toà án tuyên Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại tài sản thế chấp sau:
Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 226; Tờ bản đồ số 11; Loại đất: Đất ở nông thôn, Diện tích đất: 1.460 m²; Địa chỉ: xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AC 938902, số vào sổ cấp GCN: H 02253 cấp ngày 14/11/2005 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho Bà Trương Lệ K. Việc thế chấp đã được xác lập bằng hợp đồng thế chấp số 000620/TC do Văn Phòng C1 chứng thực ngày 17/8/2011, Số chứng thực: 000620, Quyển số : 01 TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 19/8/2011.
Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 515; Tờ bản đồ số 11; Loại đất: Đất ở nông thôn, Diện tích đất: 1.210 m²; Địa chỉ: xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AC 938901, số vào sổ cấp GCN: H 02254 cấp ngày 14/11/2005 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho Bà Trương Lệ K. Việc thế chấp đã được xác lập bằng hợp đồng thế chấp số 000620/TC do Văn Phòng C1 chứng thực ngày 17/8/2011, Số chứng thực: 000620, Quyển số : 01 TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 19/8/2011.
Trường hợp sau khi xử lý hết tài sản thế chấp mà vẫn không đủ thu hồi nợ vay, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiếp tục xử lý tài sản khác thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Trần Thị Kim T1 để trả hết nợ vay cả gốc và lãi .
Tại phiên toà đại diện theo uỷ quyền của ngân hàng N - chi nhánh C bổ sung yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà T1 có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng số tiền nợ tổng cộng là 2.132.846.227 đồng (trong đó tiền nợ gốc là 912.666.667 đồng tiền lãi tính đến ngày 11/6/2024 là 1.220.179.560 đồng và lãi phát sinh đến khi tất nợ.
Ngoài ra nguyên đơn không trình bày gì thêm.
Bị đơn bà Trần Thị Kim T1 trình bày:
Bà thừa nhận ngày 17/08/2011 Ngân hàng N - Chi nhánh C và bà ký Hợp đồng tín dụng số 6180-LAV-201102250, số tiền vay: 2.400.000.000 đồng (Hai tỷ bốn trăm triệu đồng), số tiền thực tế nhận nợ: 2.400.000.000 đồng. Phương thức cho vay: từng lần, lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng: 20%/năm. Thời hạn cho vay: 12 tháng, ngày trả nợ cuối cùng: 15/08/2012 là đúng. Bà đã nhận đủ tiền vay và trong quá trình bà đã trả được một phần tiền gốc còn nợ lại tiền gốc là 912.666.667 đồng tiền lãi tính đến ngày 11/6/2024 là 1.220.179.560 đồng như đại diện ngân hàng trình bày. Lý do vì làm ăn khó khăn, nuôi nghêu bị thua lỗ nên bà không có khả năng trả nợ đúng hạn.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bà trả số tiền gốc và lãi trên bà đồng ý nhưng xin thêm thời gian trả nợ và thoả thuận cách thức trả nợ.
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ giấy triệu tập cho bà Trương Lệ K, ông Huỳnh Duy P, ông Huỳnh Quốc B tham gia phiên họp kiểm tra việc, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng bà Trương Lệ K, ông Huỳnh Duy P, ông Huỳnh Quốc B đều vắng mặt và không có lời trình bày, không nêu ý kiến của bản thân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ phát biểu ý kiến: Về trình tự thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Tại Tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, không vi phạm về tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà T1 có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng số tiền nợ tổng cộng là 2.132.846.227 đồng (trong đó tiền nợ gốc là 912.666.667 đồng tiền lãi tính đến ngày 11/6/2024 là 1.220.179.560 đồng và lãi phát sinh đến khi tất nợ
Án phí dân sự sơ thẩm: Các bên phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, nghe đương sự trình bày và hỏi tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1.1] Ngân hàng N – chi nhánh C có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự tín dụng với bà Trần Thị Kim T1. Hội đồng xét xử thấy quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án là: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là những tranh chấp quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 30, Điều 39. Bị đơn bà Trần Thị Kim T1 cư trú thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đồng thời trường hợp tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi hợp đồng thực hiện giải quyết tranh chấp giải quyết. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Bị đơn bà Trần Thị Kim T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Lệ K, ông Huỳnh Duy P, ông Huỳnh Quốc B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt tại phiên tòa; do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án như quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung
[2.1] Về nợ gốc: Xét về hình thức và nội dung hợp đồng tín dụng số 6180-LAV-201102250 đã ký ngày 17/8/2011 giữa Ngân hàng N – chi nhánh C với bà Trần Thị Kim T1 xuất phát từ sự tự nguyện không trái pháp luật nên hợp đồng đã phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên từ thời điểm ký kết. Căn cứ vào hợp đồng tín dụng số 6180-LAV-201102768/HĐTD giữa bà Trần Thị Kim T1 với Ngân hàng N chi nhánh C có nội dung bà Trần Thị Kim T1 vay số tiền 2.400.000.000 đồng. Phương thức cho vay từng lần, lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng: 20%/năm. Thời hạn cho vay: 12 tháng, ngày trả nợ cuối cùng: 15/08/2012. Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao kết hợp đồng tín dụng trên đều được các bên thừa nhận là có thật. Nội dung các bên thỏa thuận xuất phát từ sự tự nguyện không trái với các quy định của pháp luật, phù hợp với quy định tại điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015. Theo quy định tại khoản 2 điều 95 Luật tổ chức tín dụng quy định: “Trong trường hợp khách hàng không trả nợ đến hạn thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ theo hợp đồng tín dụng” và tại khoản 1 Điều 466 Luật dân sự năm 2015 quy định “ Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà T1 đã vi phạm về nghĩa vụ trả nợ gốc và chưa thanh toán đủ số tiền gốc cho ngân hàng, tính đến ngày 11/6/2024, bị đơn còn nợ nguyên đơn 912.666.667 đồng tiền nợ gốc chưa thanh toán. Vì vậy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà T1 phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 912.666.667đồng.
[3.2] Về nợ lãi : Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 17/6/2010 quy định “... Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Căn cứ tại Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 hướng dẫn Tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận. Căn cứ hợp đồng tín dụng số 6180-LAV-201102250 đã ký ngày 17/8/2011 bà T1 ký với Ngân hàng N chi nhánh C để vay số tiền 2.400.000.000 đồng, lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng: 20%/năm, lãi suất được điều chỉnh theo biểu lãi suất huy động của Ngân Hàng trong từng thời kỳ. Căn cứ Điều 465 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của bên vay và bên cho vay thì nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả vốn và lãi theo hợp đồng là phù hợp. Mức lãi suất và lãi suất quá hạn là phù hợp với Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ bảng tính lãi vay tạm tính đến ngày 11/6/2024 thì bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền lãi là 1.220.179.560 đồng. Căn cứ hợp đồng tín dụng số 6180-LAV-201102250 đã ký ngày 17/8/2011 của Ngân hàng N chi nhánh C về lãi suất cho vay và phương thức tính lãi và điều chỉnh lãi suất Hội đồng xét xử nhận thấy việc thỏa thuận lãi suất giữa hai bên đã được ký kết là phù hợp với quy định của pháp luật. Theo đó bị đơn chưa trả cho nguyên đơn số tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn tính đến ngày 11/6/2024 là 1.220.179.560 đồng do đó đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền lãi là 1.220.179.560 đồng tạm tính đến ngày 11/6/2024 là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Như vậy, Hội đồng xét xử buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 11/6/2024 là 2.132.846.227 (hai tỷ một trăm ba mươi hai triệu tám trăm bốn mươi sáu ngàn hai trăm hai mươi bảy đồng) trong đó: nợ gốc: 912.666.667 đồng; nợ lãi: 1.220.179.560 đồng và bị đơn tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh trên số nợ gốc kể từ ngày 11/6/2024 cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 6180-LAV-201102250 mà các bên đã ký kết.
[3.3] Về tài sản thế chấp: Căn cứ Hợp đồng thế chấp tài sản 000620/TC do Văn Phòng C1 chứng thực ngày 17/8/2011, hợp đồng thế chấp số 000620/TC do Văn Phòng C1 chứng thực ngày 17/8/2011 thì bà Trương Lệ K, ông Huỳnh Duy P, ông Huỳnh Quốc B có thế chấp 02 quyền sử dụng đất diện tích đất: 1.460 m² thuộc thửa đất số 226; tờ bản đồ số 11; tại xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AC 938902, số vào sổ cấp GCN: H 02253 cấp ngày 14/11/2005 và diện tích đất: 1.210 m² thửa đất số 515; tờ bản đồ số 11 tại xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AC 938901, số vào sổ cấp GCN: H 02254 cấp ngày 14/11/2005 để đảm bảo cho khoản vay của bà T1.
Xét việc nguyên đơn và bà Trần Thị Kim T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Lệ K, ông Huỳnh Duy P, ông Huỳnh Quốc B ký kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp này đều do các bên tự thỏa thuận có công chứng tại Văn Phòng C C. Căn cứ Điều 3; Điều 12 của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 được sửa đổi năm 2012 về đăng ký giao dịch bảo đảm và căn cứ Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 thì hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên nên việc các đương sự tự nguyện thỏa thuận và không trái quy định của pháp luật. Do việc các bên giao kết hợp đồng thế chấp là phù hợp với quy định của pháp luật vì vậy hợp đồng thế chấp tài sản 000620/TC do Văn Phòng C1 chứng thực ngày 17/8/2011, hợp đồng thế chấp số 000620/TC do Văn Phòng C1 chứng thực ngày 17/8/2011 có hiệu lực pháp luật và các bên phải tuân thủ nhưng thỏa thuận trong hợp đồng. Căn cứ Điều 465; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền và nghĩa vụ của bên cho vay và bên vay và căn cứ khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015 thì Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nếu bị đơn không trả nợ hoặc trả nợ không đủ thì nguyên đơn có quyền xử lý tải sản thế chấp được quy định tại Điều 299 Bộ luật dân sự năm 2015, nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 1.460 m² thuộc thửa đất số 226; tờ bản đồ số 11; tại xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AC 938902, số vào sổ cấp GCN: H 02253 cấp ngày 14/11/2005 và diện tích đất: 1.210 m² thửa đất số 515; tờ bản đồ số 11 tại xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AC 938901, số vào sổ cấp GCN: H 02254 cấp ngày 14/11/2005 cho hộ bà Trương Lệ K. Toàn bộ khoản tiền thu được từ việc bán, xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán khoản nợ của bà Trần Thị Kim T1 tại Ngân hàng N - chi nhánh C; trường hợp khoản tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ thì bà Trần Thị Kim T1 vẫn có nghĩa vụ trả nợ đối với khoản nợ còn lại cho Ngân hàng N chi nhánh C. Bà Trương Lệ K, ông Huỳnh Duy P, ông Huỳnh Quốc B được nhận số tiền chênh lệch trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp lớn hơn nghĩa vụ trả nợ của bà T1.
[4] Tại Tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định pháp luật và nội dung vụ án nên có cơ sở chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[5] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đã nộp số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng là chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Căn cứ điều 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự yêu cầu khởi kiện nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Trần Thị Kim T1 chịu chi phí xem xét thẩm định là 3.000.000 (ba triệu) đồng. Ghi nhận nguyên đơn đã tạm nộp nên bà Trần Thị Kim T1 có trách nhiệm trả lại chi phí xem xét thẩm định tài sản là 3.000.000 (ba triệu) đồng cho Ngân hàng N - chi nhánh C.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự quy định về nghĩa vụ nộp án phí và Điều 26 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 57.539.402 đồng tiền tạm nộp án phí cho nguyên đơn theo biên lai thu số 0046304 ngày 16/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giờ. Bị đơn ông Lê Văn Ú chịu án phí dân sự sơ thẩm là 115.078.991 (một trăm mười lăm triệu không trăm bảy mươi tám ngàn chín trăm chín mươi mốt) đồng
[7] Về kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 299, khoản 7 Điều 323; Điều 463, Điều 465; Điều 466; Điều 468; Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 17/6/2010;
- Căn cứ Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N đối với bà Trần Thị Kim T1.
Buộc bà Trần Thị Kim T1 phải thanh toán cho Ngân hàng N số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng số 6180-LAV-201102250 tính đến ngày 11/6/2024 là 2.132.846.227 (hai tỷ một trăm ba mươi hai triệu tám trăm bốn mươi sáu ngàn hai trăm hai mươi bảy đồng) trong đó tiền nợ gốc: 912.666.667 đồng và tiền nợ lãi: 1.220.179.560 đồng. Thời hạn thanh toán kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Trần Thị Kim T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo mức lãi suất quy định của hợp đồng tín dụng số 6180-LAV-201102250 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng số 6180-LAV-201102250, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà T1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật nếu bà Trần Thị Kim T1 không trả nợ hoặc trả nợ không đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trên thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền tiến hành kê biên phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích diện tích 1.460 m² thuộc thửa đất số 226; tờ bản đồ số 11; tại xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AC 938902, số vào sổ cấp GCN: H 02253 cấp ngày 14/11/2005 và diện tích đất: 1.210 m² thửa đất số 515; tờ bản đồ số 11 tại xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AC 938901, số vào sổ cấp GCN: H 02254 cấp ngày 14/11/2005 cho hộ bà Trương Lệ K.
Toàn bộ khoản tiền thu được từ việc bán, xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán khoản nợ của bà Trần Thị Kim T1 tại Ngân hàng N - chi nhánh C; trường hợp khoản tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ thì bà Trần Thị Kim T1 vẫn có nghĩa vụ trả nợ đối với khoản nợ còn lại cho Ngân hàng N chi nhánh C. Bà Trương Lệ K, ông Huỳnh Duy P, ông Huỳnh Quốc B được nhận số tiền chênh lệch trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp lớn hơn nghĩa vụ trả nợ của bà T1.
- Bà Trần Thị Kim T1 chịu án phí dân sự sơ thẩm là 74.656.924 (bảy mươi bốn triệu sáu trăm năm mươi sáu ngàn chín trăm hai mươi bốn) đồng.
Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh hoàn trả lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 36.401.370 (ba mươi sáu triệu bốn trăm lẻ một ngàn ba trăm bảy mươi) đồng theo biên lai thu số 0034502 ngày 10 tháng 01 năm 2024.
Về chi phí tố tụng: Bị đơn bà Trần Thị Kim T1 chịu chi phí xem xét thẩm định là 3.000.000 (ba triệu) đồng. Ghi nhận nguyên đơn đã tạm nộp nên bà T1 có trách nhiệm trả lại chi phí xem xét thẩm định tài sản là 3.000.000 (ba triệu) đồng cho Ngân hàng N – chi nhánh C.
- Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các đương sự được quyền kháng cáo đến Toà án phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Quỳnh Như |
Bản án số 20/2024/DS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 20/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HĐ tín dụng
