|
TAND QUẬN N THÀNH PHỐ H |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2024/HSST Ngày: 11/01/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn V
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Minh T và bà Trần Thị O
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Chu Bích T
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đỗ Tuấn L – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29/12/2023, tại phòng xét xử trực tuyến, Tòa án nhân dân quận T, thành phố H; TAND quận N mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 406/2023/TLST-HS ngày 14/12/2023 đối với bị cáo:
Mai Lê T, sinh năm 1983; Giới tính: Nam
Nơi ĐKNKTT: Tổ D, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam
Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Con ông Lê Thanh Q và bà Mai Thị M
Bị cáo có vợ là Trần Thị B, sinh năm 1990, có 01 con sinh năm 2020.
Tiền án: Có 01 tiền án, tại bản án số 233 ngày 11/6/2010 của TAND thành phố H xử phạt 16 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù, ra trại ngày 27/11/2022.Tiền sự: Không
Nhân thân:
Tại bản án số 06 ngày 17/4/2000 của TAND huyện H, tỉnh N xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.
Tại bản án số 15 ngày 24/9/2001 của TAND huyện H, tỉnh N xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù, ra trại ngày 29/01/2004, được miễn thi hành án khoản tiền án phí.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 19/9/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố H – Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo bị VKSND quận N, thành phố H truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 0 giờ ngày 19/9/2023, Mai Lê T truy cập vào mạng xã hội Facebook và vào nhóm “Đập Đ”, T chủ động nhắn tin nói chuyện với một người nữ dùng tài khoản tên “Mai P” và được rủ mang ma túy đến tòa S403 chung cư V để sử dụng, T đồng ý. Sau đó, T đi ra khu vực số H đường Ô để tìm mua ma túy và gặp 01 nam thanh niên bán ma túy dạo. T hỏi và được nam thanh niên đồng ý bán cho 01 gói 300.000đ thì T đưa 300.000đ cho nam thanh niên, sau khi nhận tiền, nam thanh niên bỏ đi đâu không rõ. Sau đó, một lúc sau nam thanh niên quay lại và đưa cho T 01 gói giấy bạc màu trắng, kích thước 1x1,5 (cm) bên trong chứa tinh thể màu trắng. Sau khi lấy ma túy, T cầm ở tay trái và gọi taxi đi đến gặp “Mai Phạm” ở tòa nhà S để cùng sử dụng ma túy với “Mai P”. Khoảng 1 giờ 45 phút ngày 19/9/2023, T đến sảnh tòa S403 chung cư Vinhomes Smartcity và đang đứng đợi “Mai Phạm” thì bị Công an phường Đ phát hiện. Qúa trình kiểm tra, Mai Lê Tú t từ tay trái 01 gói giấy bạc kích thước 1x1,5 (cm) xuống dưới sàn nhà. Tổ công tác yêu cầu nam thanh niên mở gói giấy bạc ra kiểm tra bên trong có chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ, Mai Lê T khai tinh thể màu trắng trong gói giấy bạc nêu trên là ma túy đá, T mang đi sử dụng cùng với bạn. Tổ công tác Công an phường Đ đã lập biên bản, tạm giữ, niêm phong tang vật, dẫn giải đối tượng về trụ sở để làm rõ.
Vật chứng thu giữ:
01 gói giấy bạc màu trắng có kích thước 1x1,5 (cm) bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, gắn sim 0393.034.072.
Tại Bản kết luận giám định số 6372 ngày 26/9/2023 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,646 gam.
Tại bản cáo trạng số 425/CT-VKSNTL ngày 30/11/2023 của VKSND quận N, thành phố H đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Kết thúc phần tranh tụng; Tại phần tranh luận, đại diện VKS đọc bản luận tội đối với bị cáo. Nội dung bản luận tội đã phân tích nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo; Các tình tiết giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, Điều 38, 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus gắn sim 0393.034.072. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, đã được niêm phong có chữ ký của Mai Lê T, cán bộ Công an và giám định viên. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng số 425 ngày 30/11/2023 của VKSND quận N đã truy tố bị cáo. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố và lời luận tội của đại diện VKS đối với bị cáo tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện VKS. Tại lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, HĐXX nhận định: Khoảng 01 giờ 40 phút ngày 19/9/2023, tại khu vực chung cư V, phường T, quận N, thành phố H, Mai Lê T có hành vi cất giấu 0,646 gam ma túy loại Methamphetamine ở tay trái với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Đ kiểm tra, bắt giữ quả tang cùng vật chứng.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Xét cáo trạng truy tố và lời trình bày luận tội của đại diện VKS tại phiên tòa tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh một số loại tội phạm, gây mất trật tự trị an, làm băng hoại đạo đức, phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân trên địa bàn nơi xảy ra tội phạm.
Về nhân thân của bị cáo: Tính đến ngày phạm tội, bị cáo đang có tiền án, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.
Xét cần xử phạt bị cáo một mức án tương ứng với tính chất mức độ hành vi của bị cáo đã gây ra. Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo
Liên quan trong vụ án này còn có đối tượng bán ma túy cho T, quá trình điều tra, Cơ quan Công an tiến hành dẫn giải Mai Lê T chỉ địa điểm mua ma túy tại trước cửa số H đường Ô, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội. Qua rà soát không phát hiện đối tượng bán ma túy cho Mai Lê T. T cho biết đây là lần đầu mua ma túy của người này và không biết về nhân thân, tên tuổi, địa chỉ của người bán ma túy nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với người sử dụng tài khoản Facebook “Mai Phạm”: Cơ quan Công an tiến hành rà soát tại khu vực tòa nhà S - 03 chung cư V, T, Nam Từ L nhưng không phát hiện người sử dụng tài khoản Facebook "Mai P". Mai Lê T khai chưa từng gặp người sử dụng tài khoản Facebook “Mai P”, không biết về đặc điểm nhận dạng, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Mai Lê T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 47 BLHS; Điều 106, 136, 329 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Mai Lê T 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2023.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo
T1 giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus gắn sim 0393.034.072. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, đã được niêm phong có chữ ký của Mai Lê T, cán bộ Công an và giám định viên.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn V |
Bản án số 20/2024/HSST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 20/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Lê Tú phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
