|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2024/HSPT Ngày: 10/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Như Mai
Các Thẩm phán: bà Dương Thị Vân và ông Nguyễn Minh Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Lê - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Mai - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2024/TLPT-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Xuân H kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXPT-HS ngày 26/6/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum đối với:
Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Xuân H (tên gọi khác: Không); sinh ngày: 12/12/1991 tại tỉnh Kon Tum; Nơi cư trú: Thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân H1, sinh năm: 1952 (đã chết) và bà Vũ Thị T, sinh năm: 1958 trú tại thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum; Gia đình bị cáo có bốn anh em, bị cáo là con út trong gia đình; Có vợ là Lê Thị Thu P, sinh năm: 1992 (đã ly hôn); Bị cáo có một người con sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2012, bị Công an thị trấn S, huyện S, tỉnh Kon Tum ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 304/QĐ-XPHC ngày 10/8/2012 về hành vi “Trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác”, đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 24/12/2023, Nguyễn Duy H2 mang theo bộ dụng cụ chơi “Bầu cua”, đèn pin chiếu sáng và 1.000.000 đồng đi vào làng B, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum để tìm người đánh “Bầu cua” thắng thua bằng tiền. Khi đến nơi, H2 bày bộ dụng cụ chơi “Bầu cua” ra bên mép đường bê tông liên thôn, gần nhà “Rông” làng B thì Nguyễn Xuân H và một vài thanh niên đi đến tham gia chơi. Vì sợ bị phát hiện nên H2 nói mọi người xuống khu vực cầu treo, cách vị trí ban đầu khoảng 01 km, khi đi qua cầu treo khoảng vài chục mét, H2 chọn một địa điểm ở đường bê tông liên thôn cách xa khu vực có nhà dân sinh sống rồi bày bộ dụng cụ chơi “Bầu cua” ra. Sau đó H2 đeo đèn pin chiếu sáng lên đầu để tạo ánh sáng phục vụ cho việc đánh bạc, H2 xóc bộ “Bầu cua” cho mọi người đặt cược.
Chơi được vài ván thì một số thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) nghỉ chơi và rời đi, lúc này chỉ có H và một thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) tiếp tục chơi thì A N đến, lấy tiền trong người ra đếm được 1.500.000 đồng rồi cùng H đặt cược. Tiếp đó, vào khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Quốc P1 đi qua khu vực cầu treo, thấy H2, H, N đang chơi “Bầu cua” nên lại xem, xem được một lúc thì P1 lấy số tiền 350.000 đồng ra đặt cược. Trong lúc mọi người đang chơi thì có A K đến, K ngồi xem mọi người chơi chứ không đặt cược.
Quá trình chơi, Phòng đặt cược mỗi ván từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng, H và N đặt cược mỗi ván từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng (tiền dùng để chơi “Bầu cua” mọi người cất trong người, khi đặt cược hay chung chi tiền thắng thua thì mới lấy tiền ra). Trong lúc chơi, ngoài đặt cược với nhà cái thì H và N còn “Sên” (T1) với nhau, còn Phòng vì không hiểu luật chơi nên chỉ đặt với nhà cái. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì H2 thua hết tiền nên đã mượn của H 3.000.000 đồng để trả tiền, sau khi mượn tiền của H, H2 gọi cho bố là Nguyễn Duy T2 nói mình đang chơi “Bầu cua” bị thua tiền, mượn 3.000.000 đồng và nhờ T2 mang lên để gỡ. Khi T2 tới cầm theo 3.000.000 đồng thì H2 nói trả cho H 2.000.000 đồng, còn nhờ T2 cầm số tiền 1.000.000 đồng còn lại để chung chi tiền thắng thua cho những người đặt cược. Chơi đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày thì P1 thua hết tiền nên ngồi xem.
H2, H, N, T2 tiếp tục chơi đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện S phát hiện, bắt quả tang thu giữ tổng số tiền 12.100.000 đồng (trong đó, tại chiếu bạc số tiền 650.000 đồng: Hiếu 150.000 đồng, H 500.000 đồng; trên người Nguyễn Xuân H 7.200.000 đồng, A N 1.000.000 đồng, Nguyễn Duy T2 3.100.000 đồng) và thu giữ cùng một số tang vật.
Tại Cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận: Nguyễn Duy H2 sử dụng 4.000.000 đồng để đánh bạc (1.000.000 đồng mang đi, mượn Tuấn 3.000.000 đồng), khi bị bắt đang thua 600.000 đồng; Nguyễn Xuân H dùng số tiền 7.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, khi bị bắt đang thắng 700.000 đồng; A N dùng số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt đang thua 500.000 đồng; Nguyễn Quốc P1 dùng số tiền 350.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thua 350.000 đồng; Nguyễn Duy T2 mang lên cho H2 mượn 3.000.000 đồng và giúp H2 chung chi tiền thắng thua. Như vậy, tổng số tiền các đối tượng dùng vào mục đích đánh bạc là 12.850.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum đã ra quyết định:
Về tội danh:
Các bị cáo Nguyễn Duy H2, Nguyễn Duy T2, Nguyễn Xuân H, A N, Nguyễn Quốc P1 phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS; Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H2 06 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 BLHS; Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 03 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54 BLHS; Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T2 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của các bị cáo H2, H, T2 tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 ; Điều 65 BLHS; Xử phạt bị cáo A N 4 tháng tù nhưng được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo A N cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 36; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS; Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc P1 10 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện S nhận được Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Quốc P1 cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum trong việc giám sát, giáo dục. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Quốc P1.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 02/5/2024 bị cáo Nguyễn Xuân H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, bị cáo H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về thủ tục, thời hạn kháng cáo đúng quy định. Về nội dung kháng cáo: Sau khi xem xét nội dung đơn kháng cáo, phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum nhận định Bản án sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, đã xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và mức hình phạt 03 tháng tù là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp.
Đối với kháng cáo xin hưởng án treo: Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ mới xác định là có nuôi con nhỏ, tuy nhiên chứng cứ này chưa đảm bảo về mặt pháp lý, ngoài ra, bị cáo có nhân thân về xử phạt hành chính mặc dù đã được xem là không có tiền sự nhưng bị cáo chưa thực hiện nghĩa vụ theo quyết định là thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là chưa đúng, chưa nghiêm vì vậy không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định. Không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo xin giảm nhẹ mức hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về hình thức: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/5/2024, bị cáo Nguyễn Xuân H kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo. Xét kháng cáo được làm trong thời hạn luật định và hợp lệ, nên chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Xuân H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định:
Vào khoảng thời gian từ 19h30 đến 23h30 ngày 24/12/2023 tại làng B, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum, Nguyễn Duy H2, Nguyễn Duy T2, Nguyễn Xuân H, A N, Nguyễn Quốc P1 thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền Việt Nam đồng dưới hình thức xóc “Bầu cua”. Nguyễn Duy H2 là người chuẩn bị bộ dụng cụ chơi “Bầu cua”, trực tiếp làm cái ăn thua bằng tiền với Nguyễn Xuân H, A N, Nguyễn Quốc P1. Còn Nguyễn Duy T2 không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng cho Nguyễn Duy H2 mượn tiền để đánh bạc và giúp H2 chung chi tiền đặt cược trong quá trình đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 12.850.000₫.
Bị cáo Nguyễn Xuân H là người thực hành, trực tiếp tham gia đánh bạc cùng với các bị cáo khác, bị cáo đã dùng số tiền 7.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, khi bị bắt bị cáo đã thắng 700.000 đồng.
Với hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt Nguyễn Xuân H 03 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Cha đẻ của bị cáo là thương binh và được Nhà nước tặng huân chương kháng chiến chống Mỹ và áp dụng điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 03 tháng tù là phù hợp với hành vi, tính chất mức độ và hậu quả mà bị cáo gây ra.
Tuy nhiên xét thấy, tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới gồm : Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 46/2019/QÐST-HNGĐ ngày 20/8/2019 giao con cho vợ nuôi; Xác nhận thông tin về cư trú ngày 02/7/2024 của Công an xã S đối với con của bị cáo; Đơn xin xác nhận của Lê Thị Thu P (vợ cũ) đã ly hôn với bị cáo nhưng do đi làm ăn xa nên giao con lại cho bị cáo nuôi từ 2019; Giấy xin xác nhận đề ngày 02/7/2024 với nội dung bị cáo đã ly hôn vợ từ năm 2019 và hiện vợ bị cáo đã xây dựng gia đình và đi làm ăn xa nên bị cáo đã nuôi con nhỏ từ 2019 đến nay có xác nhận của thôn trưởng. Xét hoàn cảnh của bị cáo phải nuôi con nhỏ, để tạo điều kiện cho bị cáo có thời gian chăm sóc con, xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà chuyển sang một loại hình phạt khác nhẹ hơn cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như thể hiện tính khoan hồng và nhân văn của pháp luật. Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm. Chuyển mức hình phạt tù thành cải tạo không giam giữ là phù hợp. Xét bị cáo không có việc làm ổn định, nuôi con nhỏ nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân H; Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum về phần hình phạt.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân H 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện S, tỉnh Kon Tum nhận được Quyết định thi hành án. Giao bị cáo Nguyễn Xuân H cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum trong việc giám sát, giáo dục. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Xuân H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm về các vấn đề không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (ngày 10/7/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Như Mai |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Dương Thị Vân Nguyễn Minh Thành |
Nguyễn Thị Như Mai |
|
HĐXX PHÚC THẨM – TAND TỈNH KON TUM |
|
Bản án số 20/2024/HSPT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM về hình sự phúc thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 20/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc bị cáo Nguyễn Xuân Hòa kháng cáo
